Wednesday, October 13, 2010

Học sinh giỏi chê các kỳ thi quốc gia và quốc tế

Học sinh giỏi chê các kỳ thi quốc gia và quốc tế
Đội HSG thi Olympic Toán quốc tế năm 2010
Việt Nam đang mất dần vị thế của mình trong các kỳ thi Olympic quốc tế, trong khi đó, học sinh (HS) chuyên cũng không còn thiết tha với các kỳ thi HS giỏi quốc gia.
 
Tụt hạng thê thảm
Theo nhận định của Bộ GD-ĐT, kết quả dự thi của VN trong 5 năm gần đây có phần chững lại hoặc đi xuống. Trong khi đó, kết quả của nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á lại tiến bộ rõ rệt. Năm 2010, VN chỉ đoạt 2 huy chương vàng ở 5 môn, thua xa các nước như Indonesia và Singapore mỗi nước 6 huy chương vàng, Thái Lan 12 huy chương vàng.
Ngay cả môn Toán - vốn là thế mạnh của đội tuyển VN tại các kỳ thi Olympic quốc tế, cũng không nằm ngoài tình trạng trên. GS-TS Hà Huy Khoái, Viện Toán học, chỉ ra rằng: kể từ khi tham gia Olympic Toán quốc tế, đội tuyển VN luôn được xem là một trong những đội mạnh và thường đứng trong top 10 của bảng xếp hạng thành tích toàn đoàn. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tương quan giữa thành tích của đội tuyển nước ta với một số nước khác đã có nhiều thay đổi. Nếu như năm 2000 đoàn HS VN đứng thứ 5 thì đến năm 2010 đã tụt xuống thứ 10. Trong khi đó, Thái Lan từ hạng thứ 29 của năm 2000 đã vươn lên hạng 5 trong năm nay, Thổ Nhĩ Kỳ từ hạng 18 lên 8...
Như vậy, ngoại trừ thành tích cao của năm 2007, khi Olympic Toán quốc tế lần thứ 47 được tổ chức tại VN, kể từ năm 2005 đội tuyển của chúng ta đã rơi vào tốp 11-15. “Nếu không được cải thiện, có lẽ trong tương lai gần, chúng ta sẽ ở trong tốp 16-20, đội tuyển VN sẽ ra khỏi tốp những đội tuyển mạnh về toán học quốc tế” - GS Khoái nhận định.
PGS-TS Nguyễn Thế Khôi (trường ĐH Sư phạm Hà Nội), người thường giữ vai trò trưởng đoàn HS VN tham dự Olympic Vật lý quốc tế cũng nêu thực tế: cách đây khoảng 5 năm, thành tích của đoàn HS VN vào loại cao nhất trong khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, dần dần chúng ta bị các nước như Indonesia, Thái Lan và Singapore đuổi kịp và vượt qua.
Cũng theo Bộ GD-ĐT, các đội tuyển khác như Sinh học mới có một HS đoạt huy chương vàng quốc tế năm 2000. Đội tuyển Tin học từng gây tiếng vang toàn cầu (năm 1999, có 3/4 HS đoạt huy chương vàng, đạt vị trí số 1 nếu tính điểm đồng đội), nhưng trong 7 năm gần đây lại không có huy chương vàng nào, năm 2010 chỉ có 1 HS đoạt huy chương đồng.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, trong đó, chủ yếu là do không có được nguồn HS giỏi dồi dào để tuyển chọn vào tuyển quốc gia.

Nản lòng vì chính sách đãi ngộ


Nếu không được cải thiện, có lẽ trong tương lai gần, chúng ta sẽ ở trong tốp 16-20, đội tuyển VN sẽ ra khỏi tốp những đội tuyển mạnh về toán học quốc tế

GS-TS Hà Huy Khoái
Nhiều ý kiến cho rằng, một số thay đổi về chính sách đối với HS đoạt giải trong kỳ thi HS giỏi quốc gia đã làm giảm sự nhiệt tình của số đông HS giỏi. Điển hình là việc bỏ chế độ tuyển thẳng HS giỏi quốc gia vào ĐH từ năm 2007 đến nay. Theo GS Khoái, phụ huynh cũng đã hướng con em mình đến những mục tiêu dễ dàng hơn như học để đạt điểm cao trong các kỳ thi ĐH, để tìm cơ hội du học hơn là cố gắng đi theo con đường thi HS giỏi đầy khó khăn. Giáo viên trường chuyên là những người hiểu rõ hơn ai hết khó khăn của việc động viên HS giỏi tham gia các kỳ thi trong những năm gần đây. TS Nguyễn Đức Hoàng, Hiệu trưởng trường THPT chuyên ĐH Sư phạm Hà Nội nói: “Nhiều phụ huynh chọn trường chuyên cho con em mình chỉ vì môi trường học tập, sau đó tập trung tối đa cho tiếng Anh để du học chứ không hào hứng tham gia thi HS giỏi quốc gia như những năm trước kia. Điều này là do quyền lợi của HS đoạt giải không tương xứng với công sức mà các em phấn đấu để đạt được”.
TS Nguyễn Thanh Hùng, Phó hiệu trưởng trường Phổ thông Năng khiếu - ĐH Quốc gia TP.HCM, cũng nói: “Chính vì HS không mặn mà với các cuộc thi HS giỏi nên thầy cô các trường chuyên cũng mất dần tâm huyết giảng dạy các lớp chuyên, các đội tuyển”. TS Hùng cho biết một thực tế có HS đoạt huy chương bạc Tin học quốc tế khi đang học lớp 11, nhưng đến lớp 12 thì bỏ không thi để tập trung học tiếng Anh chuẩn bị đi du học.
Trước thực trạng này, GS Khoái tâm tư: “Cũng giống như thể thao, không thể có thành tích của thể thao đỉnh cao nếu không có phong trào thể thao rộng khắp. Vì thế, việc giảm sút nhiệt tình của HS đối với các kỳ thi HS giỏi quốc gia tất yếu dẫn đến sự giảm sút của chất lượng đội tuyển quốc tế”.
Chính từ nguyên nhân này, hầu hết các ý kiến phát biểu tại hội thảo về vấn đề thi HS giỏi quốc gia và tuyển chọn HS đi thi quốc tế (kết thúc hôm qua tại Hà Nội) đều kiến nghị Bộ GD-ĐT nên sửa đổi quy chế thi HS giỏi và khôi phục lại chế độ tuyển thẳng đối với HS đoạt giải quốc gia như trước kia.
tuyensinhvnn.com (Theo Thanh Niên)

Một số kinh nghiệm về cách tính tích phân - Nguyễn Hữu Thanh

tuyensinhvnn.com xin giới thiệu 2 bài viết nhỏ của thầy Nguyễn Hữu Thanh (THPT Thuận Thành I - Bắc Ninh) về chuyên đề tích phân.
1. THÊM MỘT CÁC TIẾP CẬN NỮA ĐỂ TÍNH TÍCH PHÂN (đặt ẩn phụ không làm thay đổi cận): Download
2. TRAO ĐỔI VỀ CÁCH TÍNH ĐỐI VỚI MỘT LỚP TÍCH PHÂN ĐẶC BIỆT (trao đổi thêm về bài viết của Trần Xuân Đường trên tạp chí Toán học Tuổi trẻ tháng 5/2010): Download

Monday, October 11, 2010

Viện Toán học Việt Nam tròn 40 tuổi

Ngày 12/10, Viện Toán học kỷ niệm 40 năm ngày thành lập (1970-2010). Từ 15 năm nay, được Viện Hàn lâm Thế giới thứ ba công nhận là một trong những "Trung tâm xuất sắc" (Institute of excellence) ở các nước đang phát triển.
Viện Toán học Việt Nam tròn 40 tuổi
Viện Toán học được khởi đầu với sự đóng góp quan trọng của nhà Toán học Lê Văn Thiêm. Ảnh: Tú Uyên
 Viện trưởng  từng về quê chăn bò và kỷ lục xây trụ sở mới
"Quyết định thành lập Viện Toán học là cực kỳ dũng cảm. Năm 1970, chiến tranh ở Việt Nam diễn ra rất ác liệt, đang rất cần nhân lực tài giỏi phục vụ chiến tranh, thế nhưng những người lãnh đạo bấy giờ dám để những người giỏi vào ngành toán trong thời điểm có nhiều việc phải làm" - GS. Hà Huy Khoái, nguyên viện trưởng, người gắn bó cả cuộc đời với viện, nhớ lại.
"Nếu đầu óc những người bấy giờ đòi hỏi người làm nghiên cứu toán phải "ra ngô, ra khoai" ngay thì rất khó. Tầm nhìn của nhà lãnh đạo như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc ấy chính là sự đầu tư rất lớn cho toán học Việt Nam".
Viện trưởng lâu đời nhất, GS Hoàng Tụy thì vẫn chưa quên tiền thân của viện là một phòng nghiên cứu toán học, với một nhóm 5, 6 sinh viên giỏi được đưa đi đào tạo ở  Ủy ban khoa học. Sau này, phòng toán học tăng lên hơn chục người. 
"Tôi nghĩ, trên thế giới chưa có viện toán nào hoạt động khó khăn như viện Toán thời ấy. Anh Lê Văn Thiêm, Viện trưởng đầu tiên, thần tượng của chúng tôi thời trẻ, là nhà toán học đầu tiên của chúng ta, đã có lúc phải về quê chăn bò, do có những chính sách đối xử với khoa học không được đúng đắn, khi có quan niệm, khoa học phải đi vào thực tế. Tuy vậy, nhìn chung con người lúc đó rất trong sáng, người như anh Thiêm không lấy chuyện đó làm buồn, vẫn tin tưởng rồi đất nước sẽ phát triển".  
40 năm thành lập viện Toán học Việt Nam
GS Hoàng Tụy. Cuốn chuyên khảo gồm phần lớn những thành tựu nghiên cứu của GS. Hoàng Tụy và học trò của ông mang tên "Global Optimization - Deterministic Approches" (Tối ưu toàn cục - tiếp cận tất định) được Springer (nhà xuất bản khoa học lớn nhất thế giới) in lại ba lần từ năm 1990 đến năm 1996, được coi là kinh điển trong lĩnh vực Tối ưu toàn cục. Có thể nói, Hà Nội thời GS Tụy là một trung tâm của toán tối ưu toàn cục.
Tập thể Viện Toán thời GS Tụy trở thành Viện trưởng (1980 - 1990) có khoảng 30 người, làm việc trong phòng làm việc có vài chục thước, ở 39 Trần Hưng Đạo, "sau chuyển đến một cái nhà tranh rách nát ở 208D Đội Cấn". "Chúng tôi vẫn thường đùa rằng ngồi làm việc nhưng có thể ngắm mây trời bất kỳ lúc nào". 
Mãi tới năm 1981, Thủ tướng Phạm Văn Đồng tới thăm, thấy điều kiện làm việc thảm hại nên về bàn với Bộ trưởng Bộ Xây dựng thời ấy là ông Đồng Sĩ Nguyên xây cơ sở mới cho Viện Tính toán và điều khiển, trong đó có Viện Toán học.  Ông Đồng Sĩ Nguyên sau này cho biết chưa bao giờ thấy Thủ tướng giao một công việc cụ thể như vậy nên ông rất tích cực làm, chỉ trong một năm, một thời gian rất kỷ lục, Viện toán đã có cơ sở làm việc mới, chính là ở trên khu đất của Viện Toán học ngày nay. 
Nhìn lại nền toán học Việt Nam trong 40 năm, theo đánh giá của thế hệ sau, người được coi là nổi bật nhất, đại diện cho nền toán học là GS. Hoàng Tụy. GS. Hoàng Tụy là tác giả của gần 150 công trình khoa học đăng trên các tạp chí quốc tế có uy tín về nhiều lĩnh vực.
Cho tới nay, có ba nhà toán học được viện Hàn lâm khoa học thế giới thứ ba công nhận là Viện sĩ: GS Hà Huy Khoái, GS Ngô Việt Trung và GS Lê Dũng Tráng (lúc đó vẫn còn làm việc ở Việt Nam). Gần đây nhất, viện này đã công nhận nhà toán học Phùng Hồ Hải (thuộc Viện Toán học) là thành viên trẻ của mình. Yêu cầu được công nhận là tuổi dưới 40, có thành tích xuất sắc. Thông thường, chỉ có khoảng 8 người ở 4 vùng được công nhận điều này.
GS. Hoàng Tụy cho biết: Sau 20 năm kể từ ngày thành lập, Viện Toán học đã trở thành một viện nghiên cứu tương đối đàng hoàng, là một trong những trung tâm toán học xuất sắc trong vùng Đông Nam Á thời bấy giờ.
Từ sau năm 1975 đến hết 1990, kinh tế bị kiệt quệ, khoa học nói chung bị trì trệ thì viện lại nổi lên. Tuy nhiên, 15 năm trước đây, có những lúc đã rơi vào khủng hoảng vì thiếu đội ngũ kế cận. 
 Công trình khoa học quốc tế chiếm 57%
Viện Toán học Việt Nam tròn 40 tuổi
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm Viện Toán học năm 1981
GS Hà Huy Khoái cho biết, sở dĩ thời kỳ "khủng hoảng của toán học" sau đổi mới, bắt đầu vào nền kinh tế thị trường, chút nữa thì ngành toán biến mất lại có thể qua đi và vượt lên được là bởi vẫn có những người ham mê toán thực sự, "khổ nhưng vẫn làm".
Một may mắn nữa là trong giai đoạn ấy, viện có rất nhiều người xin được học bổng nước ngoài từ các nước Đức, Pháp, Nhật. Viện gần như là cơ sở nghiên cứu khoa học đầu tiên đi tìm được học bổng bên ngoài, không thuộc nhà nước.
Trong gần 10 năm trở lại đây, theo GS. Ngô Việt Trung, Viện trưởng Viện Toán học, chỉ với số lượng cán bộ là 70 người, viện đã có số lượng công trình khoa học quốc tế chiếm tới 57% tổng các số công trình toán học cả nước từ trước đến nay.
Nếu tính riêng các bài báo chất lượng cao, viện có  2/3 tổng số công trình cả nước đăng trong các tạp chí thuộc danh mục ISI (danh mục các tạp chí khoa học có chất lượng của Mỹ). So với thời kỳ trước năm 2000, số lượng bài báo trong danh mục ISI đã tăng gấp đôi.
Đóng góp lớn nhất của Viện Toán cho đất nước trong 40 năm qua, theo đánh giá của các GS Hà Huy Khoái "là nâng cao kiến thức chung về toán cho cả xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục."  Còn theo GS Ngô Việt Trung, là "giữ cho trình độ khoa học của đất nước ở một tầm nhất định, đào tạo ra những người làm toán, các giảng viên toán cho các trường đại học".
GS Lê Dũng Tráng: ’Kính tặng nhân dân tôi’
 Toán học Việt Nam nhờ đó đã không còn bị cô lập so với thế giới, nhất là các nước Mỹ, Nhật và ở Châu Âu. Nhờ luồng gió mới mẻ ấy mà những người làm việc ở các nhóm nghiên cứu Toán học khác cũng "lây" tinh thần phấn chấn và được khích lệ để ganh đua"... Những đồng nghiệp của GS.TSKH Việt kiều Lê Dũng Tráng đã nói như vậy về tác động của ông, người âm thầm làm cầu nối đưa Toán học Việt Nam ra thế giới.
Trong những năm 1970, không thể không nhắc tới những trí thức Việt kiều trở về đóng góp cho khoa học nước nhà, trong đó có Toán học. GS Lê Dũng Tráng thời ấy đã về nước ngay sau khi bảo vệ xong luận án tiến sĩ. Sự phát triển toán học trong nước lúc ấy đã bị bỏ xa so với thế giới nên sự trở về của những người như GS Tráng rất có ý nghĩa.

Sau những nỗ lực bắc những nhịp cầu thông với thế giới của GS Tráng, lần lượt, đã có thêm nhiều nhà Toán học nổi tiếng thế giới tìm đến Việt Nam, giảng bài cho sinh viên ở cả những vùng đã đi sơ tán, thông qua lời giới thiệu: "Ở Việt Nam, hiện đang có một nhóm làm Toán đi theo xu hướng hiện đại". Toán học Việt Nam nhờ đó đã không còn bị cô lập so với thế giới, nhất là các nước Mỹ, Nhật và ở Châu Âu.
Tại Mỹ năm 1974 , trong một hội thảo Toán học quốc tế (tổ chức 4 năm một lần và Việt Nam khi đó chưa có đại diện sang dự), TS Lê Dũng Tráng (từ Pháp sang với tư cách cá nhân) đã tự hào ghi tên Việt Nam lên một tấm bảng nhỏ, đặt giữa những tấm biển khác, sánh vai cùng các nước có nền Toán học phát triển. 
Toán học Việt Nam đi về đâu?
Mô tả ảnh.
GS Ngô Việt Trung: Định hướng lớn nhất hiện nay là thu hút giới trẻ vào Viện toán học.
"Khi hơn một nửa số người giỏi về toán đang ở nước ngoài", GS Khoái nói. "Nếu không có chính sách thu hút họ về mà để họ vĩnh viễn làm việc ở nước ngoài thì đó là một tai họa".
Tuy nhiên, thu hút họ về không chỉ là vấn đề tiền mà còn là không khí làm việc, người làm toán cũng cần có sự tự do tuyệt đối như Ngô Bảo Châu đã nói. Tuy nhiên, muốn thu hút họ về thì trước tiên phải đối xử khác với người làm việc ở trong nước. Nếu ưu tiên cho họ về mức lương mà người trong nước vẫn bị đối xử về lương kém hơn thì họ cũng không muốn. 
Đó là chưa kể, môi trường nghiên cứu ở Việt Nam vẫn thua ở các nước phát triển ở một điểm, chẳng hạn như ở Mỹ, các hãng lớn ủng hộ khoa học rất nhiều tiền nghiên cứu mà không đòi hỏi ngay một cái gì đó. Sở dĩ họ đầu tư mà không cần thu lợi ngay trước mắt là bởi họ hiểu về lâu dài, họ sẽ có nguồn nhân lực tốt. 
GS Hà Huy Khoái: Phải phiêu lưu một chút
Con người nên thay đổi và dám thay đổi. Phải phiêu lưu một chút. Và, những người ít bị trói buộc bởi các hệ tư tưởng đã được "đóng đinh", đã được công nhận... là những người dễ thích ứng và thành công. Những nhân tố ấy thường mang lại động lực cho sự phát triển xã hội
GS Ngô Việt Trung cho biết: Định hướng lớn nhất ở viện hiện nay là thu hút giới trẻ vào làm việc. Mỗi năm Viện giúp một hai em đi nghiên cứu ở nước ngoài và hy vọng các em trở về, tuy nhiên, sau đó có về hay không thì không ai dám chắc.
Đội ngũ người làm toán giỏi đã già mất rồi, chẳng hạn ngành toán tối ưu của GS Tụy, giờ người trẻ nhất ở đây đã gần 50 tuổi! Những ngành như xác xuất thống kê, toán ứng dụng không có người kế cận, chỉ có những người sắp đến tuổi về hưu.
Theo GS Trung, lực lượng người làm toán ở VN hiện nay chỉ bằng một khoa toán của một trường ĐH cỡ trung bình ở châu Âu. Nếu tính số lượng số công trình được công bố thì còn ít hơn. Hằng năm, viện công bố khoảng 70 công trình nghiên cứu. 
Nhà toán học trẻ Phùng Hồ Hải. Ảnh: Tú Uyên
Nhà toán học trẻ Phùng Hồ Hải. Ảnh: Tú Uyên
Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm rằng, mức lương của một nhà toán học chỉ khoảng trên dưới 35 triệu/năm, trong khi đó, mức lương trung bình của một nhà toán học tại Mỹ là 100 ngàn đô la/năm.
 Nhà toán học trẻ Phùng Hồ Hải có thể nói là một trong những người hiếm hoi quyết định trở về Việt Nam và nhận mức lương khiêm tốn, mặc dù anh có thể tìm kiếm một công việc tốt, thu nhập cao và ổn định tại nước ngoài.
"Sự chọn lựa này hoàn toàn là ý thích cá nhân. Giảng dạy toán cho giảng viên và sinh viên, học sinh trong nước thú vị hơn giảng cho SV nước ngoài" - anh giải thích.
Theo anh, về nước làm việc, không thể nói là bị hoàn toàn cô lập với các hoạt động nghiên cứu ở nước ngoài. 
GS Ngô Bảo Châu: "Tinh thần thương yêu, đoàn kết của cộng đồng toán học Việt Nam rất hiếm hoi, đáng quí"
Khoa học của nước ta nói chung, và toán học nói riêng, chưa có một vị trí xuất sắc trên thế giới, nhưng nếu không có tinh thần đoàn kết, thương yêu nhau, cùng với tinh thần nghiêm khắc, không bao che cho những yếu kém về học thuật, thì toán học Việt Nam cũng như các ngành khoa học khác, sẽ không có bất kỳ một cơ hội nào để tiến bộ.
Trong máy tính của anh là một kho sách về toán tải miễn phí từ trên mạng. Anh vẫn có liên hệ với các trường ĐH nơi mình từng làm việc để tìm được những công bố mới nhất. Nhưng quả thật , có bị hạn chế vì chỉ có thể trao đổi qua e-mail mà không gặp gỡ trực tiếp được.
Ở nước ngoài, các nhà toán học được tập trung vào công việc của mình nhiều hơn, trong khi ở Việt Nam, các nhà toán học phải đi làm thêm mới đủ sống.
Theo GS Phùng Hồ Hải, muốn phát triển ngành toán thì phải quan tâm từ thế hệ HS nhỏ tuổi.
Ở Việt Nam, học sinh vẫn là những "thợ giải bài tập". Đó là bởi thông thường các bài toán cao cấp được thay đổi để trở thành bài toán sơ cấp, HS giải bài toán ấy dựa trên sự thông minh chứ không dựa trên kiến thức cao hơn để giải, ngược lại hoàn toàn với các nước phát triển.
Những nước có nền toán học phát triển mạnh đào tạo được đội ngũ kế cận rất tốt. Chẳng hạn như Hà Lan, đất nước chỉ có 10 triệu dân nhưng có lực lượng toán học mạnh hơn VN rất nhiều lần, họ không có thành tích gì nổi bật trong các kỳ thi Olympic toán quốc tế, nhưng họ chính là người ra nhiều đề hay nhất cho các kỳ thi này.
"Ở Việt Nam, hãy bắt đầu từ việc nhỏ, đó là cần phải kết nối những nhà làm toán, nghiên cứu về toán với HS phổ thông, tạo cho họ sự đam mê vì hiện HS Việt Nam chỉ học để đi thi cho tốt chứ không phải học để biết", Phùng Hồ Hải nhấn mạnh.
  • tuyensinhvnn.com (Theo VNN)
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Viện đã ứng dụng các phương pháp toán học để lập phương án đảm bảo giao thông thời chiến, giải tỏa ách tắc xe cộ ở những nơi trọng điểm hay bị địch oanh tạc, để nổ mìn định hướng xây dựng các tuyến giao thông.
Trong thời kỳ kiến thiết và xây dựng đất nước, Viện đã tham gia:
- Giải quyết các bài toán về quy hoạch và sử dụng hợp lý tài nguyên nước, về tính thấm trên công trình thủy điện sông Đà, Trị An và một số công trình khác.
- Tính toán và giải quyết một số bài toán về ô nhiễm dầu trên mặt biển, bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác dầu khí ở biển Đông.
- Cài đặt và áp dụng nhiều bộ chương trình thống kê để phân tích, xử lý số liệu.
- Xây dựng hệ mật mã khóa công khai và ứng dụng trong việc bảo mật thông tin trong truyền tin.
- Xây dựng phần mềm sản xuất tin dự báo sớm bão để phát trên truyền thình, Internet....  

Những câu nói lỗi thời về giáo dục

"Học một biết mười"
Những câu nói lỗi thời về giáo dục

Chúng ta dường như quá ảo tưởng và kỳ vọng vào con em mình. Những cháu nào lanh lợi một chút thì ngợi ca là “học một biết mười”. Theo nhiều nhà sư phạm, chuyện “học một biết mười” chỉ nên xem như một cách nói mang tính tượng trưng, kiểu ngoa dụ.
Học một biết một đã là quý lắm rồi! Hãy yêu cầu các em học một biết lấy một cái đã. Biết cái gì chắc cái đó, biết thật cơ bản và sâu sắc.
Cái lối “biết mười” của chúng ta xưa nay chẳng qua chỉ là hiểu biết vặt vãnh, vụn vặt, chắp vá. Cứ tung hô cái lối “học một biết mười”, vô hình chung, chỉ đẻ ra đủ thứ láu cá, mẹo mực trong học tập, tạo ra thói chủ quan, hiếu thắng, ảo tưởng trong học sinh, thậm chí còn khuyến khích việc học thêm không cần thiết.
"Không thầy đố mày làm nên"
Câu nói này rất quen thuộc với nhiều thế hệ trước đây. Câu này nếu như chỉ nói với dụng ý đánh gia cao vai trò của người thầy thì có lẽ chẳng nói làm gì. Thế nhưng nhiều người lại tuyệt đối hoá nó.
Có thầy mà “làm nên” là việc đã đáng khen rồi. Nhưng không thầy mà “làm nên” càng phải đáng khen hơn nữa chứ. Trên đời này thiếu gì người tự học hỏi mà thành công. Ông Nguyễn Cẩm Luỹ có được học hành đến nơi đến chốn đâu mà sao vẫn di chuyển được toà nhà hàng ngàn tấn? Mấy anh thợ cơ khí Hai Lúa ở Đồng Bằng Sông Cửu Long có học chế tạo máy đâu mà vẫn cho ra lò hết loại máy này đến máy khác?
Không nên tuyệt đối hoá vai trò của người thầy. Điều này tạo cho học sinh tính thụ động, ỷ lại và tự ti. Có lẽ, đã đến lúc phải bảo cho các em biết được rằng, có thầy hướng dẫn thì thuận lợi hơn, nhưng không có thầy các em vẫn có thể học được. Trong nhà trường hiện cũng đang thực hiện nguyên tắc “lấy học sinh làm trung tâm”, tức là các em chính là người chủ động đi tìm kiến thức, giáo viên chỉ giữ vài trò hướng dẫn, gợi mở.
Trong cuộc sống hôm nay, có đủ thứ cần phải học mà cái gì cũng phải có ông thầy thì liệu còn học được gì? Phải chăng chính vì cái tư duy “Không thầy đố mày làm nên” nên đã đẻ ra đủ các kiểu học thêm học nếm như ngày hôm nay?
"Nhất tự vi sư..."
Câu này thường thấy trên báo chí vào dịp kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11. Với một dân tộc tôn sư trọng đạo, mang nặng triết lý thứ bậc Quân - Sư - Phụ như dân tộc chúng ta thì việc người ta hay nói “một chữ cũng là thầy” xem ra cũng dễ hiểu.
Câu này - cũng giống như với “không thầy đố mày làm nên” - nếu chỉ với ý nghĩa đề cao vai trò, công lao của người thầy thì không sao.
Thế nhưng nhiều người lại coi như một khẩu hiệu và thực hiện theo nó một cách máy móc.
“Hơn một chữ cũng là thầy” chỉ nên hiểu là một cách nói có ý nghĩa tương đối để mỗi người luôn tự ý thức học hỏi vươn lên. “Hơn một chữ” chưa thể “làm thầy” được và chỉ có “chữ” không thôi cũng không thể làm thầy được.
Trí - đức - thể - mỹ
Câu này thường thấy trong mục tiêu giáo dục của nhà trường.
Có nghĩa là nhà trường của chúng ta phải đào tạo những con người có đầy đủ trí - đức - thể - mỹ.
Thực ra, đây là ước mơ của cả nhân loại trên thế gian này. Nhưng vấn đề ở chỗ có đạt được một con người toàn vẹn, tròn vo như thế?
Có thể mục tiêu này là cái đích phấn đấu, nhưng đáng nói ở chỗ, hình như nó lại ít nhiều ảnh hưởng, thậm chí quy định phương pháp giảng dạy và yêu cầu học tập.
Chính vì thế nên người ta mới bắt học sinh phải trở thành những nhà mỹ thuật tài ba, những vận động viên chuyên nghiệp?!
Điều đó có đáng không khi mà năng khiếu mỗi em một khác?
Thế nên mới có chuyện bài mỹ thuật, thủ công học sinh nhờ phụ huynh làm giúp, bởi thế mới có chuyện đau lòng học sinh tử vong khi học môn thể dục.
Ở đây có sự mâu thuẫn. Ngành giáo dục đang cố dạy theo nguyên tắc phân hoá trong giáo dục (phân ban), có nghĩa dạy học hướng tới từng cá thể học sinh, phát huy năng lực mỗi em. Vậy thì làm sao đòi hỏi được đầy đủ trí, đức, thể, mỹ?
Cũng may là mới đây, dường như nhận thấy sự mẫu thuẫn nói trên, nên ngành đã thay đổi cách đánh giá ở một số môn năng khiếu.
Theo VNN

Wednesday, October 6, 2010

Bài toán liên quan khảo sát hàm số - phần 2

Trong Phần 1: Khảo sát hàm số và các bài toán liên quan, chúng tôi đã giới thiệu tuyển tập 64 bài tập và lời giải chi tiết. Phần 2 này sẽ tiếp tục giới thiệu các bài toán liên quan đến khảo sát hàm số. Tuyển tập gồm nhiều file, do nhiều tác giả biên soạn.
bai toan lien quan khao sat ham so

Download các bài toán liên quan khảo sát hàm số - phần 2: DOWNLOAD
Xem thêm:

Giáo sư Ngô Bảo Châu và tình yêu với sách

“Sách là người bạn đặc biệt, lúc nào cũng sẵn sàng mở lòng với ta. Khi ta dọn nhà, bạn đi theo ta. Lúc nào bạn cũng đợi ta ở trên kệ sách”.
Xin trân trọng đăng bài của GS Ngô Bảo Châu viết theo yêu cầu của bà Muller-Marin - đại diện của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) tại Việt Nam cho Triển lãm Hồ Chí Minh và học tập suốt đời. Triển lãm đang diễn ra tại Hà Nội.
Giáo sư Ngô Bảo Châu và tình yêu với sách
Các đại biểu tham quan Triển lãm Hồ Chí Minh và học tập suốt đời
Vì lý do công việc, tôi hay phải dọn nhà. Cứ mỗi lần lại phải mất một vài tháng thì ngôi nhà mới xa lạ mới trở nên thân thuộc. Tôi để ý thấy thời điểm mà sự thân thuộc tăng đột biến là thời điểm khi tôi lấy sách từ trong thùng mang xếp lên kệ. Lúc xếp sách lên kệ là lúc quá khứ của ta ùa vào không gian của hiện tại.
Tôi có rất nhiều sách. Có sách đã đọc, có sách đã đọc vài lần, có sách đọc một nửa, còn có quyển mới chỉ đọc vài trang. Nhưng mất quyển sách nào là tôi biết ngay. Và tôi rất ghét các bạn mượn sách mà quên trả, trong khi bản thân tôi thì cũng đôi khi giả quên.
Những quyển sách cũ hình thù xộc xệch vì thời gian là những quyển mà tôi cảm thấy gắn bó nhất. Quyển này từng vác sang Ấn Độ vào mùa mưa, trang giấy hút ẩm đến quăn queo, không bao giờ tìm lại được hình hài ban đầu. Quyển này vì để cả tháng trên bàn làm việc ở trên tầng bốn tràn đầy ánh nắng trong ngôi nhà của bố mẹ tôi ở Hà Nội, nên bìa đã phai màu. Nhìn những quyển sách úa đi đi với thời gian cũng thân thương như xem cha mẹ, người thân, bạn bè mỗi ngày một già.
Tôi không bao giờ viết hoặc bôi xanh bôi đỏ lên trang sách. Cũng như không bao giờ làm xấu bạn bè của mình.
Cuộc sống của mỗi người bị hạn chế trong không gian và trong thời gian. Mỗi người chỉ có thể sống một cuộc sống, tại mỗi thời điểm chỉ có thể có một vị trí. Trang sách chính là cửa sổ mở sang những cuộc đời khác, những thế giới khác. Và cũng là chỗ để ánh sáng mặt trời dọi vào cuộc đời mình.
Đọc sách không chỉ để thỏa mãn cái ham muốn hiểu biết về vũ trụ và về cuộc sống, mà còn là cách để nuôi dưỡng sự ham muốn đó. Một câu hỏi được giải đáp sẽ mở ra hai câu hỏi mới cần được giải đáp và dắt tay ta đến những trang sách mới.
Không phải cái gì mình cũng tìm được trong sách, vì cuộc sống luôn rộng lớn hơn sách vở. Có thứ sách không dạy được ta, vì nếu chưa được cuộc đời cho ăn đòn thì ta chưa hiểu. Cũng có những chuyện nói ra thành lời thì dễ hơn viết.
Nhưng ngược lại ta có thể học bằng đọc sách nhiều hơn người ta tưởng. Nhiều chuyện khó nói ra bằng lời lắm. Quan hệ xã giao giữa con người với con người phải tuân theo mọt số quy định : cuộc sống hàng ngày của mỗi người đã đủ mêt mỏi, không nên hành hạ người khác về sự ray rứt của bản thân mình. Khi nói, mình muốn người khác phải nghe ngay. Khi viết, mình có thể để người ta đọc lúc nào cũng được. Chọn không đúng thời điểm, những thông điệp thiết tha nhất cũng trở nên lạc lõng. Lợi thế lớn nhất của sách là tính ổn định trong thời gian.
Sách là người bạn đặc biệt, lúc nào cũng sẵn sàng mở lòng với ta. Khi ta dọn nhà, bạn đi theo ta. Lúc nào bạn cũng đợi ta ở trên kệ sách.
tuyensinhvnn.com (ThichHocToan/DanTri))

Khảo sát hàm số và các bài toán liên quan

Khảo sát hàm số và các bài toán liên quan - Các dạng toán liên quan khảo sát và vẽ đồ thị hàm số. Tài liệu gồm đề bài và lời giải:
1. ĐỀ BÀI các bài toán liên quan đến khảo sát hàm số (9 trang): Download
2. LỜI GIẢI các bài toán liên quan khảo sát hàm số (81 trang): Download
Xem PHẦN 2