Showing posts with label Ngô Bảo Châu. Show all posts
Showing posts with label Ngô Bảo Châu. Show all posts

Friday, January 27, 2012

Ngô Bảo Châu bị ném đá

Nếu online thường xuyên trong những ngày Tết Nguyên đán 2012, chắc chắc giáo sư Ngô Bảo Châu đáng kính của chúng ta sẽ bị ... sứt đầu mẻ trán. Ngô Bảo Châu đang bị ném đá hội đồng!
Thần tượng NGÔ BẢO CHÂU đang dần dần sụp đổ!
Ngo bao chau bi nem da

Tiếc cho Ngô Bảo Châu, (cựu nhà báo) Trương Duy Nhất có bài "Giá như Ngô Bảo Châu":
Giá như Ngô Bảo Châu từ chối căn hộ hơn 10 tỷ chính phủ làm quà cho… bố mẹ mình. Bởi với một tài năng và vị thế như anh, không đến nỗi gì lại không thể tự lo cho bố mẹ một chỗ ở đàng hoàng. Tôi không tin Ngô Bảo Châu túng đến vậy.

Giá như Ngô Bảo Châu không nhận khu biệt thự mấy triệu đô từ “chúa đảo” Tuần Châu Đào Hồng Tuyển tặng Viện toán. Bởi tôi không tin Ngô Bảo Châu không biết gì về Đào Hồng Tuyển. Trụ sở Viện có rồi. Nó nằm ở Hà Nội. Khu biệt thự này có chăng cũng chỉ để cho giáo sư Châu cùng các đồng sự trong Viện cuối tuần thi thoảng kéo nhau về nghỉ dưỡng.

Giá như Ngô Bảo Châu không ngửa tay nhận 650 tỷ từ nguồn ngân sách chính phủ để… làm gì tùy thích mà “không bị yêu cầu phải nghiên cứu cái gì". Nếu muốn làm gì thì làm, “không bị yêu cầu phải nghiên cứu cái gì" thì lập ra cái Viện nghiên cứu toán kia để làm gì? Vả lại, số tiền đó nếu có, với tình hình hiện tại, nên dồn cho việc khác. Tôi không nói là việc nghiên cứu toán cao cấp với “bổ đề” bổ điếc kia không cần tiền, nhưng trong lúc này, hoàn cảnh này, nhiều thứ khác cần tiền hơn, thiết thực, cấp thiết và “bổ” hơn những bài toán “bổ đề” nhiều.

Giá như Ngô Bảo Châu không trả lời Tuổi Trẻ bằng một câu … phũ phàng đến thế. Không phải báo chí người ta không nhìn ra, không biết viết. Nhưng trong tình thế hiện tại (tôi không tin là Ngô Bảo Châu không hiểu), khi báo chí đã cài một câu hỏi như vậy là họ muốn mượn nhờ câu trả lời của anh, chỉ có anh, với tên tuổi và vị thế của anh nói ra mới có thể đứng được trên mặt báo. Điều đó là cực kỳ lợi hại, hữu ích. Cái tên Ngô Bảo Châu cần cho những thời khắc đó. Tôi không tin là Ngô Bảo Châu lại không hiểu, không nhìn ra vị thế của trí thức và vai trò phản biện, đặc biệt trong bối cảnh này.
Giá như…
Nhưng vì sao Ngô Bảo Châu vẫn ứng xử như vậy? Hay tư duy trí thức trong anh đã ở đẳng cấp cao và… xa như bài toán “bổ đề” đến nay vẫn hiếm người hiểu nổi nó là cái gì?
Osin Huy Đức thì có ý kiến:
Vấn đề là, một nước nghèo như VN làm gì cũng phải tính thứ tự ưu tiên, đầu tư 650 tỷ cho viện toán trong khi tiền bạc đang cần hơn cho những đầu tư khác ở ngay chính trong lĩnh vực khoa học và giáo dục. Không nên nhắc chuyện cái nhà làm gì và tiền, thì nghe đâu Viện Toán chũng chỉ mới được giải ngân vài tỉ. Nhưng, khi GS vừa nhận giải Fields, tôi viết trên Facebook, mong ông ở lại nơi mà ông có thể cống hiến nhiều nhất cho toán học. Trong thời đại ngày nay, những cống hiến có giá trị dù của ai và ở đâu cũng đều cần thiết cho người VN. Dù không làm ra, người Việt vẫn được hưởng lợi từ Iphone của Steve Jobs và FB của Mark Zuckerberg. Thực ra, thành tựu của Ngô Bảo Châu hay Đặng Thái Sơn, đối với người VN, chỉ mới có giá trị ở mức độ tạo ra nguồn cảm hứng. Chính vì thế mà một tiếng nói của các anh ấy, không cẩn thận, nó có thể chuyển cảm hứng của công chúng đi theo một chiều hướng khác.
Muốn biết Ngô Bảo Châu bị ném đá thế nào thì các bạn có thể đọc thêm các bài viết và comment trên đó: Gửi Ngô Bảo Châu, Thư GS Ngô Bảo Châu gửi Bọ Lập, Gấu luận về GS Châu,... và nhiều bài khác trên Facebook.
Hy vọng qua Tết Nhâm Thìn 2012, giáo sư Ngô Bảo Châu sẽ làm nhiều nói ít. Điều đó sẽ tốt hơn cho ông và tốt hơn cho Toán học thế giới.

Sunday, September 25, 2011

Toán học - một dạng nghệ thuật

Cuộc trò chuyện giữa Giáo sư Ngô Bảo Châu (cháu) và GS Hà Huy Khoái (chú) - nguyên Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam:
GS Hà Huy Khoái cho rằng, để tồn tại, toán học Việt Nam đã qua thời khó khăn nhất; còn để phát triển lên một bước mới, toán học Việt Nam vẫn đang ở thời kỳ khó khăn nhất.
GS Ngô Bảo Châu và Hà Huy Khoái
Ngô Bảo Châu: Tỉ lệ nhà toán học trên đầu người có lẽ không ở đâu bằng gia đình chú Khoái. Chú Hà Huy Hân là giáo viên toán, chú Hà Huy Vui là một nhà toán học Việt Nam hàng đầu trong chuyên ngành kỳ dị. Thế hệ sau còn có Hà Huy Tài, Hà Minh Lam và Hà Huy Thái. Đây là một điển hình về truyền thống gia đình hay là một sự ngẫu nhiên tai quái?

Hà Huy Khoái: Có thể gia đình chú không có “tỷ lệ trên đầu người làm toán cao nhất Việt Nam” (cũng có một số gia đình tương tự, như gia đình các giáo sư Phan Đình Diệu, Nguyễn Minh Chương,…) Tuy nhiên, chú bỏ qua việc cạnh tranh cái “kỷ lục” này, để trả lời câu hỏi tiếp theo. Đây đúng là một phần của truyền thống gia đình, một phần là kết quả của một sự TẤT NHIÊN tai quái (không phải “ngẫu nhiên”, nhưng vẫn là “tai quái”)! Truyền thống, vì cho đến những đời còn ghi lại được trong gia phả (cũng nhiều thế kỷ rồi), thì hình như các cụ kị của chú chỉ biết mỗi nghề…đi học! Có một số cụ đỗ đạt, nhưng có “làm quan” thì cũng chỉ trông coi việc học, như là Huấn đạo, Đốc học. Thành ra đến đời chú cũng chỉ biết tìm nghề học mà thôi. Vấn đề còn lại chỉ là: học cái gì? Ở phổ thông, chú thích học tất cả các môn: Văn, Toán, Sử, Địa,…, có lẽ chỉ trừ môn Thể dục! Thích nhất là Văn, Sử. Thời đó thì Toán có gì để thích đâu: không học thêm, không sách tham khảo, chỉ có sách giáo khoa thôi, mà hình như giáo khoa thời đó cũng dễ hơn bây giờ. Cho nên Toán chỉ được thích vì dễ! Có thể đó cũng là cái may lớn, vì chưa sợ Toán khi học phổ thông, nên sau này vui vẻ đi theo nghiệp Toán! Còn cái sự tất nhiên tai quái nào dẫn chú đến Toán, mà không phải Văn, thì là vì thời chú học phổ thông cấp 2, 3 (1958-1963) là thời mà sự kiện “nhóm Nhân văn - Giai phẩm” còn ồn ào lắm. Ông cụ thân sinh của chú, là một nhà giáo, khuyên các con theo nghề Toán, vì chắc chắn tránh được những nhóm tương tự! Còn thế hệ tiếp theo (Tài, Lam, Thái) thì có thể là do “quán tính”!

Tuy vậy, nếu bây giờ cho chọn lại, chắc chú vẫn chọn nghề Toán!

Chú đã sống với toán học và khoa học Việt Nam qua những thời kỳ rất khác nhau. Thời kỳ trước thống nhất đất nước, thời kỳ từ 75 đến khi bức tường Berlin sụp đổ, thời kỳ từ 1990 đến nay. Liệu chú có thể chia sẻ những suy nghĩ của mình về những sự biến đổi của khoa học Việt Nam trong từng thời kỳ này không?

Câu hỏi lớn quá, và ngẫu nhiên trùng với một ý định từ lâu của chú là viết một cuốn “Hồi ký toán học”. Nói là “hồi ký” có thể không đúng lắm, nhưng là chú muốn viết về những điều “mắt thấy, tai nghe, đầu nghĩ” của mình về cái giai đoạn đầy biến động đó, mà chú may mắn (có thật là may không?) được chứng kiến. Không hiểu rồi cái “hồi ký” mà chú dự định có thể hoàn thành được không, nhưng nếu cần có câu trả lời (dù nhỏ) cho câu hỏi lớn của cháu, thì chú nghĩ có thể là thế này.

Trong biến động nào cũng có hai phần: tinh thần và vật chất, dĩ nhiên là không độc lập với nhau. Trước 1975, hầu như cả dân tộc Việt Nam sống bằng niềm tin vào ngày thống nhất đất nước. Niềm tin đó giúp người ta vượt qua mọi khó khăn về vật chất. Khoa học Việt Nam, Toán học Việt Nam cũng không nằm ngoài không khí chung đó. Khổ, nhưng thấy học toán, làm toán là một niềm vui lớn. Đặc biệt, những năm đầu tiên bước vào ngành toán chính là những năm để lại nhiều ấn tượng nhất trong cuộc đời làm toán của chú, khi được cùng GS Lê Văn Thiêm và mấy người đàn anh áp dụng phương pháp nổ mìn định hướng vào việc nạo vét Kênh nhà Lê phục vụ giao thông thời chiến. Trong chiến tranh, hình như con người lại “lãng mạn” hơn trong thời bình. Lãng mạn, vì ít tính toán hơn. Cũng có thể không có gì để tính toán. Mà lãng mạn thực sự là điều cần cho những ai đi vào toán học, vì nghề làm toán lại là nghề khó “tính” trước nhất! Có ai dám chắc mình sẽ được kết quả gì trong tương lai.

Thời kỳ đầu sau 1975 là thời mà toán học Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Rất nhiều người được cử đi học tập ở nước ngoài, kể cả ở các nước phương Tây. Nhưng rồi những thuận lợi đó nhanh chóng qua đi, khi vào khoảng 1985 kinh tế Việt Nam bộc lộ những khủng hoảng trầm trọng của cái thời mà ta gọi là “tập trung, quan liêu, bao cấp”. Không thể sống bằng nghề làm toán với đồng lương ít ỏi, một số phải đi dạy học ở châu Phi, số khác tìm những nghề “tay trái” (nhưng thu nhập hơn nhiều lần “tay phải”), một số khác may mắn hơn thì tìm kiếm được những học bổng để đi nước ngoài. Ngành toán Việt Nam vượt qua được giai đoạn gay go đó trước hết nhờ vẫn còn có những người chịu “sinh nghề, tử nghiệp” với toán, và cả những người “may mắn” nhận được học bổng nước ngoài để sống và tiếp tục làm toán.

Sau 1990, Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới. Toán học Việt Nam cũng đứng trước thách thức hoàn toàn mới. Có lẽ lần đầu tiên, những người làm toán ở Việt Nam phải tự đặt câu hỏi: tại sao lại làm toán, mà không làm nghề khác (có thể kiếm nhiều tiền hơn)? Cái thời mà làm việc gì cũng nghèo như nhau, thì ai thích toán cứ làm toán. Bây giờ, thích toán nhưng cần tiền, có làm toán nữa không? Cái chất “lãng mạn” mà toán học rất cần đã không còn, hay là còn rất ít đất sống. Ông Frédéric Pham đã từng đặt câu hỏi “Y-aura-t-il toujours des mathematiciens au Vietnam l’an 2000” (Gazete de mathematiques, vol. 64, pp. 61-63, 1995). Nhưng toán học Việt Nam, năm 2000, vẫn tồn tại qua thời khủng hoảng. Có thể là do kinh tế Việt Nam cũng đã bước qua khủng hoảng. Cũng có thể do những ai đã chọn toán làm nghề nghiệp của mình thì cũng không đòi hỏi quá nhiều về vật chất, nên họ dễ tự bằng lòng với cuộc sống không cần quá nhiều tiền của mình! Có ai đó nói: “Không nên lãng mạn hóa cái nghèo”, đúng lắm, nhưng cũng đừng để cái nghèo giết chết lãng mạn. Không còn lãng mạn sẽ không còn âm nhạc, thơ ca, không còn toán học.

Chú nghĩ như thế nào về tương lai của toán học Việt Nam?

Nếu định chọn con đường khoa học thì nên tự hỏi: có phải cái mà mình mong muốn nhất là tri thức và tự do không?
GS Hà Huy Khoái
Cháu hỏi chú nghĩ gì về tương lai? Để tồn tại, có lẽ toán học Việt Nam đã qua cái thời khó khăn nhất. Còn để phát triển lên một bước mới: chắc vẫn đang ở thời kỳ khó khăn nhất. Xã hội Việt Nam đang trong cái thời kỳ đầu của “kinh tế thị trường”, cái thời mà chuẩn mực của sự “thành đạt” nhiều khi được đo bằng tiền. Mà tiền chính là cái các nhà toán học có ít nhất! Vậy nên, chỉ những người có quan niệm khác về “thành đạt” mới có thể chọn toán làm nghề nghiệp của mình. Về tương lai của toán học Việt Nam, chú trông chờ hai điều: 1/ nền kinh tế Việt Nam sẽ phát triển để đến khi các nhà doanh nghiệp Việt Nam không còn tự hài lòng với việc giàu lên do làm người bán hàng cho nước ngoài, hoặc người bán nguyên liệu của nước mình cho nước ngoài. Đến khi họ không muốn và không thể tiếp tục làm giàu theo cách đó, họ sẽ cần đến khoa học công nghệ. Khi đó, khoa học cơ bản, toán học sẽ có tiếng nói của mình. 2/ các nhà lãnh đạo thấy rõ đầu tư cho khoa học cơ bản - cũng có thể xem là một phần của việc đầu tư cho giáo dục - là việc làm lâu dài, bảo đảm cho sự phát triển bền vững, là việc của Nhà nước. Nói cách khác, những nhà lãnh đạo cũng cần phải “lãng mạn”, để nhìn được tương lai xa hơn những lợi ích trước mắt có thể “cân đo đong đếm” dễ dàng.

Cháu cũng thấy thật đáng sợ khi người ta lấy đồng tiền làm thước đo cho mọi thứ. Trong cuộc sống, mình vẫn phải tính toán thiệt hơn, nhưng không thể đem cái tính toán thiệt hơn ra làm nền tảng xã hội. Dù sao thì cháu vẫn tin đến lúc nào đó thì chúng ta sẽ tỉnh lại, vì cái căn của con người Việt Nam vẫn là sự tử tế.

Người làm toán bao giờ cũng gặp mâu thuẫn giữa ý muốn làm được cái gì thật hay với việc phải “sản xuất đều đều công trình” (nhất là khi phải xin tài trợ). Theo cháu làm thế nào để sống yên ổn cùng một lúc với hai ý muốn đó?

Theo cháu, mỗi người làm toán nên giữ riêng cho mình một câu hỏi lớn. Có thể không trả lời được ngay, có thể sẽ không trả lời được trong phạm vi hữu hạn của cuộc sống mình có. Nhưng nó sẽ là một cái đích để mọi việc mình làm trở nên logic chứ không ngẫu nhiên và không bị chi phối bởi những gì ầm ĩ nhất thời. Ngược lại, trong mỗi việc cụ thể mình làm thì lại không nên câu nệ xem đây là bài toán to hay nhỏ, mà bản thân mình thấy hay là được. Có điều mình phải luôn tự nhủ phải trung thực với bản thân. Chú có biết cái câu thơ này của ông Bảo Sinh không :

Tự do là sướng nhất đời
Tự lừa còn sướng bằng mười tự do.

Người làm toán nào cũng ít nhiều thích “nổi tiếng”, nhưng khi quá nổi tiếng (chẳng hạn được Fields) thì hình như sự nổi tiếng lại thành gánh nặng. Cháu có lời khuyên thế nào với các bạn trẻ?

Cháu nghĩ ai cũng cần sự công nhận, sự tôn trọng từ những người khác. Trường hợp ông Perelman là rất ngoại lệ. Còn sự nổi tiếng theo kiểu tài tử xi nê thì thực ra rất là bất tiện. Chỉ có điều trong trường hợp của cháu, mình không có cách nào khác ngoài chấp nhận nó, rồi cố gắng hướng nó vào những việc có ý nghĩa.

Khi tiếp xúc với những nhà toán học nước ngoài, chú có cảm giác nói chung họ biết nhiều hơn (về những thứ “không toán”, hay có thể gọi chung là “văn hóa”) so với những người làm toán ở nước ta. Cháu có thấy thế không? Có thể giải thích thế nào về hiện tượng này, và nó ảnh hưởng thế nào đến chính việc làm toán của “họ” và “ta”?

Mỗi người làm toán nên giữ riêng cho mình một câu hỏi lớn. Có thể không trả lời được ngay, có thể sẽ không trả lời được trong phạm vi hữu hạn của cuộc sống mình có. Nhưng nó sẽ là một cái đích để mọi việc mình làm trở nên logic chứ không ngẫu nhiên và không bị chi phối bởi những gì ầm ĩ nhất thời.
GS Ngô Bảo Châu
Cháu lại thấy các nhà khoa học phương Tây hay thắc mắc làm sao mà người phương Đông, không chỉ riêng các nhà khoa học, ai cũng là triết gia. Có thể là cái phông văn hóa phương Đông và phương Tây rất khác nhau, nên ai cũng thấy người kia biết những thứ mà mình mù tịt. Nhưng đúng là cái phông văn hóa có chi phối hoạt động khoa học. Ở phương Đông cháu thấy người ta thích cái kiểu tầm chương trích cú quá.

Có một cái các nhà khoa học phương Tây, tính cả Ấn Độ, hiểu biết hơn hẳn các nhà khoa học phương Đông, đó là âm nhạc, nói rộng ra là khả năng cảm thụ thẩm mỹ. Theo cháu cái khả năng này là một phẩm chất không thể thiếu của người làm toán.

Là một người gắn bó với khoa học Việt Nam gần như từ lúc khai sinh, chú Khoái có thể nói một vài lời cho những bạn trẻ đang chuẩn bị dấn thân vào con đường khoa học không ?

Chú không thích lắm cái chữ “dấn thân”. Nó làm cho người đi vào khoa học có vẻ như ra chiến trường, có vẻ như sẵn sàng hy sinh vì người khác. Thực ra đi vào khoa học cũng không phải “hy sinh” cái gì hết. Ta làm khoa học vì ta thích hiểu biết, thích sáng tạo. Làm khoa học thì được đọc nhiều, tức là được thụ hưởng hơn người khác cái kho tàng tri thức vô giá của nhân loại. Mà đã thụ hưởng thì có nghĩa vụ đền đáp, tức là phải cố gắng góp được cái gì đó, dù nhỏ. Cuộc sống bao giờ cũng sòng phẳng. Nếu mình đã được làm cái mình thích thì cũng không nên đòi hỏi cuộc đời cho lại đầy đủ mọi thứ như người khác. Thích hiểu biết (thực chất cũng là một thứ hưởng thụ) mà lại vẫn mong có rất nhiều tiền; thích tự do làm cái mình muốn mà vẫn mong có nhiều quyền; thích được yên tĩnh để đắm mình vào suy tư riêng mà vẫn mong cái sự nổi tiếng - đó là những mâu thuẫn mà nếu không nhận thức ra thì cứ tưởng mình đang phải hy sinh, đang “dấn thân”! Làm khoa học cũng là một nghề, như mọi nghề khác. Nếu thích giàu thì nên đi buôn, thích quyền thì nên đi làm chính trị, thích hiểu biết, thích tự do thì nên đi vào khoa học. Nghề nào cũng có cái “được” và “mất”. Quan trọng nhất là hiểu cho được mình thực sự cần cái gì. Điều này không dễ, nhất là khi người ta còn trẻ.

Bởi vậy, nếu định chọn con đường khoa học thì nên tự hỏi: có phải cái mà mình mong muốn nhất là tri thức và tự do không?

Trong cuộc đời, ai cũng có thể mắc sai lầm. Theo cháu, bao giờ thì một người cần nhận ra rằng mình đã sai lầm khi chọn nghề Toán, và nên đổi sang nghề khác?

Cháu thấy có nhiều lý do khiến người ta có thể từ bỏ nghề Toán và chọn một nghề khác. Trong trường hợp không nhìn thấy triển vọng nào để nghề Toán tạo cho gia đình mình một cuộc sống tạm gọi là tươm tất, thì Toán không còn là nghề nữa mà là một dạng nghệ thuật để theo đuổi. Để theo đuổi một nghệ thuật thì cần một tình yêu mãnh liệt lắm. Đấy là nghĩa của từ dấn thân mà cháu sử dụng. Nhưng đo độ mãnh liệt của tình yêu thì không dễ.

Để làm toán, người ta chỉ sử dụng một số khá hạn chế khả năng của con người, nhưng lại sử dụng chúng một cách tối đa. Khi nhận ra rằng mình thiếu một số khả năng để làm nàng Toán hoan hỉ, mà lại thừa những khả năng mà nàng ta lờ đi, thì có khi cũng nên tìm một nghề khác với nghề nghiên cứu Toán. Yêu đơn phương lâu dài thì mệt lắm.

Chú Khoái đã có thời gian được làm việc trực tiếp với GS. Lê Văn Thiêm. Chú có chia sẻ những ký ức của chú về GS. Lê Văn Thiêm không? GS Thiêm đã có ảnh hưởng như thế nào đến sự nghiệp toán học của chú Khoái?
Có hai người thầy ảnh hưởng nhiều nhất đến chú, không chỉ trong khoa học mà cả trong cách nhìn nhận cuộc sống là Giáo sư Lê Văn Thiêm và Giáo sư Manin. GS Lê Văn Thiêm, như chú đã từng viết trong một bài giới thiệu về Ông, “thuộc vào số những con người không lặp lại của lịch sử”. Không lặp lại, vì những người hoàn toàn trong sáng như Ông thường chỉ xuất hiện trong buổi đầu của mỗi giai đoạn lịch sử, khi niềm say mê lý tưởng giúp họ quên đi những toan tính cá nhân. Giáo sư Lê Văn Thiêm trong sáng và ngây thơ đến mức tin rằng mọi người cũng trong sáng như Ông (cả khi lịch sử không còn ở giai đoạn đầu!) Khi Ông là Viện trưởng Viện Toán học, đã nhiều lần vì không đủ thời gian chờ, Ông ký tên vào tờ giấy trắng để sau đó nhân viên điền vào những gì họ cần “xin”. Điều đó không để lại hậu quả nào cho Ông khi làm việc ở Viện, nhưng chú nghe nói trước đó, thời còn là Hiệu phó Đại học Tổng hợp, Ông đã bị một số người lợi dụng sự cả tin như vậy và đưa đến khá nhiều điều phiền toái cho Ông. Vậy mà Ông vẫn không hề “rút kinh nghiệm”. Cho đến tận cuối đời, Ông vẫn giữ được nụ cười hồn nhiên như trẻ thơ.
Về khoa học thì chú nghĩ đóng góp tốt nhất của chú là xây dựng “lý thuyết Nevanlinna p-adic”. Chú học được “lý thuyết Nevanlinna” từ GS Lê Văn Thiêm, một trong những người có đóng góp lớn vào lý thuyết đó. Khi đi làm nghiên cứu sinh với Manin, chú học được về “p-adic”. Ghép hai chữ học được ở hai thầy lại thành chữ của mình!

tuyensinhvnn.com và Math.com.vn (Theo Tia sáng)

Saturday, August 6, 2011

GS Ngô Bảo Châu giao lưu với CLB Tài năng trẻ FYT

Các vấn đề trao đổi: Toán học thực sự ở đâu trong đời sống; giáo dục Toán học và khoa học nói chung ở Việt Nam; xu thế kết hợp giữa các ngành khoa học; và lời khuyên cho các bạn trẻ về quá trình chọn ngành nghề hay phương pháp học tập, nghiên cứu. Thực tế thì cũng trao đổi được ngần ấy, tuy nhiên dung lượng đọng lại không nhiều, một phần vì anh Châu trả lời ngắn, mà kỳ thực mình cũng thấy chả trả lời dài được =) nhưng thực sự là rất khó tóm tắt ý. Anh có lối trả lời chậm rãi, đặc biệt là từ đầu tiên, nghĩ rất lâu mới bắt đầu nói. Hôm nay hỏi xen kẽ luôn từ đầu chứ không phải dồn về cuối. Bài này chắc chắn vẫn bị thiếu sót về nội dung do thỉnh thoảng người ghi chép làm việc riêng :”> ).

MC Hiếu Đinh: Theo anh thì Toán học là gì?

Anh Châu (AC): Toán học là một loại ngôn ngữ. Quá trình học và nghiên cứu, “làm ra” Toán cũng như quá trình sáng tạo ra 1 ngôn ngữ, với các nhiệm vụ: chỉ rõ các khái niệm, hạn chế các khái niệm, đặt tên cho chúng và tìm ra mối liên hệ giữa chúng. [Hà lúc đấy tự nhiên cười ồ trong óc, đúng thật, khá là thú vị.] Và khi làm 1 bài toán không ra là vì chưa tìm được ngôn ngữ phù hợp.

MC: Anh vừa nói Toán học là 1 ngôn ngữ, đó là danh từ. Vậy nếu dùng 1 tính từ để miêu tả thì anh sẽ dùng từ gì?
AC: Hiệu quả không hợp lý (unreasonable effectiveness). Toán học là một ngôn ngữ do con người nghĩ ra chứ ko phải bị áp đặt nhưng nó là một sản phẩm tuyệt vời đến mức sau này người ta quên nó là do mình nghĩ ra và cho rằng nó có sẵn trong tự nhiên. Ngôn ngữ này được xây dựng từ trong hoàn cảnh rất hẹp nhưng có thể được sử dụng rộng và hiệu quả một cách khó tin. Ví dụ như đạo hàm. Đạo hàm chỉ là một ngôn ngữ lý thuyết do Newton – Lebniz nghĩ ra trong hoàn cảnh liên quan đến vận tốc của chuyển động nhưng bạn có thể thấy hiện nay không có đạo hàm thì không có khoa học. Đó là suy nghĩ của tôi khi dùng từ unreasonable effectiveness như vậy.

MC: Theo anh thì toán học nghiên cứu những gì, mục đích là gì?

AC: Toán học là một bức tranh rất rộng lớn nên khó có thể tóm tắt ngắn gọn. Thực ra đa phần các nhà toán học đều nghiên cứu các vấn đề mang tính nội tại và tôi cũng không nghĩ công trình của tôi nghiên cứu có nhiều áp dụng trực tiếp vào thực tế. Họ nghiên cứu vì vẻ đẹp nội tại của toán học, để thỏa mãn chính bản thân mình. Còn tất nhiên toán học vẫn gắn với thực tế, thực tế luôn là động lực cho các ngành khoa học nhưng có một vấn đề là thường những vấn đề thực tế lại rất khó khiến người ta không thể trả lời được và đôi khi phải cố trả lời phần nào và nói dối rằng đã trả lời được. Các nhà toán học lý thuyết xây dựng lý thuyết của riêng mình, và dù nó chỉ tồn tại trong suy nghĩ của họ, nhưng nó lại chắc chắn đúng và sau đó các lý thuyết này mới được tìm ra và áp dụng vào vấn đề thực tế. Đạo hàm vừa rồi là 1 ví dụ. Đây là một trong số trường hợp, dù không nhiều, lý thuyết đi trước và sau đó giải quyết các vấn đề thực tế. Tôi nghĩ nếu người ta chỉ nhìn vào các vấn đề thực tế và yêu cầu lấy nó làm mục đích, nghiên cứu tìm ra giải pháp thì có lẽ là sẽ không làm được và phải nói dối như tôi đã nói ở trên.
Vì hôm nay nhiều dân toán nên chiếm 1 phần không nhỏ trong trao đổi là về việc làm toán chuyên nghiệp.

Thảo K10 (HCB IMO 2008): Theo anh nếu cảm thấy mình không thực sự xuất sắc thì có nên tiếp tục theo ngành toán? Khi bắt đầu theo ngành toán anh có nghĩ là anh sẽ làm được điều gì đó vĩ đại, được giải Fields… không ạ?
AC: Theo tôi thì, khi nào mà làm toán cảm thấy đó là 1 việc nặng nhọc, mệt mỏi, rất là vất vả thì nên dừng lại.
Lúc đầu thì đương nhiên là tôi không nghĩ gì cả. Không nên đặt ra mục tiêu như vậy vì 1 là dễ không đạt được mục đích, 2 là dễ bị tâm thần. *Cả phòng cười *.

Hiếu Đinh: Em nghe nói là thời gian đầu anh sang Pháp thì cuộc sống của anh có nhiều vất vả, khổ cực. Có bao giờ những toan tính đời thường ảnh hưởng đến việc theo ngành toán của anh không ạ?
AC: Lúc đầu thì không, có vất vả nhưng lúc đó chưa có nhiều mối lo nên thấy cũng đủ sống, có thể lo được. Nhưng sau đó có con cái, phải lo nghĩ nhiều hơn, nên mình cũng bắt đầu phải suy nghĩ và tìm cách giải quyết. Nhưng nói chung là tôi cũng không yêu cầu cao lắm nên tôi cũng không bao giờ phải quá vất vả hay lao tâm khổ tứ về chuyện đó.

Ducy Hoàng (HCV IMO 2008) [Bạn Ý có vẻ rất quan tâm đến kỹ năng làm toán và các chi tiết đời thường của anh Châu =)).] Khi đứng trước 1 bài toán mới thì anh xử lý như thế nào?
AC: Thường thì nếu mà mình le lói hướng đi nào đấy trong đầu rồi thì mình sẽ đâm đầu vào ngay. Nhưng nếu mà khi mình không có hướng gì, thì đầu tiên là phải “làm quen” với bài toán, đừng coi bài toán là thù, bài toán là bạn mình. Lân la hỏi thăm “hàng xóm, láng giềng” của nó (những bài toán lân cận), những người đã nghiên cứu vấn đề này hoặc các vấn đề liên quan, đi lại, dò xét kỹ bên ngoài bài toán. Sau đó thì sẽ đến giai đoạn thực sự phải tìm hướng đi và giải nó. Nhiều khi sẽ thấy rất hóc búa và nản, quá trình đó có thể kéo dài đến vài năm không lối ra hoặc đi theo mãi hướng đó mà không được. Nói chung là phải kiên trì.

Tiếp tục là bạn Ducy Hoang: Những lúc stress như thế thì anh làm thế nào ạ? [Không khác gì phỏng vấn =))]
AC: Thì tôi cũng giống người bình thường thôi, đọc sách, nghe nhạc…

Hỏi: Anh có chơi game không ạ?
AC: Không, tôi cũng có thử nhưng trò bấm bấm thế này (anh minh họa) tôi thấy không hợp. *Mọi người lại cười*.

Hỏi: Thế còn cờ vua?
AC: Cờ vua tôi cũng có chơi, nhưng không có hứng thú. Nói chung tôi thấy mình không hứng thú với những trò chơi đối kháng.


Hỏi: Vậy mà em có đọc 1 bài báo thấy anh hay chơi cờ tướng với hàng xóm?

AC: À, có 1 lần. Tôi đứng xem và bình luận 1 câu. Nhưng nhà báo sau đó không phỏng vấn tôi mà lại phỏng vấn ông hàng nước. [=)).]

Hỏi: Thế anh có bao giờ làm 2 bài toán cùng lúc không ạ? Anh đang làm 1 bài toán và có 1 bài toán khác hấp dẫn anh?
AC: Không, tôi không có khả năng làm nhiều việc 1 lúc. Tôi chỉ yêu từng người một thôi, không yêu nhiều người cùng lúc. ).

Đạt K11 (HCB IMO 2008): Trong cuốn sách của mình Hardy, một nhà lý thuyết số, thẳng thắn thừa nhận rằng các công trình của ông chẳng có bất kỳ một ứng dụng nào cả (mặc dù thực tế sau này nó có) và cho rằng chẳng có gì phải xấu hổ về điều đó. Ông đơn thuần tự hào rằng mình đã đóng góp vào kho tàng trí thức nhân loại… Cá nhân anh khi thực hiện nghiên cứu có nghĩ rằng sau này nó sẽ có ứng dụng gì không?
AC: Không, chắc là không. *Phòng cười đoạn này mới to =)*. Nói chung là khi chúng tôi làm chúng tôi quan tâm đến bản thân bài toán đó nhiều hơn.

Đạt: Nhiều người, có cả đại chúng lẫn người làm toán, cho rằng toán phổ thông rất khác với toán hiện đại. Vậy theo anh ranh giới lớn nhất giữa chúng là gì? Nếu có một ranh giới thực sự lớn như vậy, làm sao để sinh viên chúng em, những người cứ coi như là làm tương đối tốt toán phổ thông nhưng chưa biết gì về toán học hiện đại, có thể biết rằng liệu mình là người phù hợp để theo đuổi lĩnh vực này?
AC: Nhìn chung, thì người làm tốt toán phổ thông thì có thể làm tốt toán hiện đại. Ít nhất là tôi thấy vậy. Nhưng có sự khác biệt, đó là nhận thức về vẻ đẹp. Toán phổ thông hay đề cao tính suy luận lắt léo, còn trong toán học hiện đại tính xây dựng được đề cao hơn. Khi bước vào Đại học tôi cũng trải qua một cú sốc khác biệt như vậy. Bài tập tôi vẫn làm được, kết quả thi chấp nhận được (tôi cũng chỉ hay được 7,8/10 thôi chứ không hay được 10/10). Nhưng tôi không thấy đẹp, và không hiểu tại sao lại làm như vậy. Về lý thuyết thì có thể làm tốt nhưng phải vượt qua được cú sốc này.

Đạt: Cũng như GS nói, em cảm thấy có một cú sốc khi bắt đầu tìm hiểu toán học hiện đại. Không chỉ là về năng lực mà còn cả về sự đam mê. Hardy đã viết ý rằng khi nhỏ ông không hẳn có cái gì gọi là đam mê toán học, ông đơn thuần chỉ thấy thích thú khi mình làm rất tốt, chiến thắng các cậu bé khác và cả giáo viên. Chỉ đến sau này khi được một thày giáo hướng dẫn và chỉ cho một cuốn sách, ông mới tìm được cảm hứng thực thụ của mình. Vậy theo GS có cách nào để vượt qua cú sốc này một cách tương đối chủ động không, hay chúng ta vẫn phải chờ đợi một điều tốt đẹp như vậy =)?
AC: Có lẽ cách tốt nhất là chủ động tiếp cận với những người làm toán hiện đại, không dè dặt, để biết được họ đang làm những gì và tìm được người thày tốt cho mình.
Tiếp theo chuyển đến chuyện dạy toán trong giáo dục. Nói chung, được hưởng thụ nền giáo dục tiên tiến, đương nhiên là anh cổ vũ cho chuyện phải học theo đam mê, sở thích và khuyến khích các em. Anh lấy VD về chuyện học sinh thi toán quốc tế của Mỹ thì sau này theo toán vẫn khá nhiều, còn số liệu của Trung Quốc thì tỉ lệ là gần như 0%, và đương nhiên là anh nghiêng về cách dạy và luyện thi của Mỹ hơn. Thi quốc tế không nên đặt mục tiêu cao nhất là huy chương, giải thưởng, mà cốt lõi, tột cùng là tăng cường phong trào học toán. Và việc thành lập Viện toán cao cấp là 1 trong những nỗ lực của anh về việc đó.
Để 1 phần giải quyết vấn đề mà Đạt có nêu ra bên trên, rằng có 1 khoảng cách giữa toán phổ thông và toán hiện đại khiến học sinh có thể bị khớp và không tự tin, anh cho rằng nên đưa toán học hiện đại vào phổ thông, nhưng đương nhiên phải có phương pháp phù hợp chứ không phải máy móc là tống vào chương trình học. Toán học hiện đại không thể đi 1 mình được, cần có người hướng dẫn, nếu tự đi sẽ rất dễ bị lạc đường. Có thể có 1 số cách như lập các CLB toán hoặc tổ chức nghiên cứu các đề tài đơn giản thôi, để làm quen, tìm hiểu.
Trả lời câu hỏi về việc theo GS, đâu là mấu chốt để có thể vực dậy việc dạy toán cũng như giáo dục phổ thông hiện nay, GS cho rằng đó là tính chủ động, sự chủ động của tất cả các thành phần: giáo viên, học sinh, phụ huynh… Cũng giống như khoán 10 thành công vì mỗi người, mỗi đơn vị tự lo vậy, giáo dục cũng cần sự chủ động như thế. Chờ đợi cơ chế thì rất lâu, mà từ trên áp xuống 1 cách làm cho tất cả thì lại khó, chi bằng mỗi nơi tự chủ động tìm ra phương pháp và có trách nhiệm hơn với việc mình làm.
NBC and FYT. Ảnh: Lê Việt Hà

Mảng cuối cùng là các câu hỏi khác không liên quan đến toán.

Anh Thành (Khách mời – cựu hs chuyên Toán SP, bằng tuổi anh Châu, nói chung có biết nhau hồi xưa, giám đốc Vinapo): Tôi thấy hiện nay chưa có 1 thống kê nào về số lượng học sinh thi quốc tế hiện đang làm gì, ở đâu, tôi thấy các bạn khá rời rạc trong liên kết.
AC: Theo tôi điều cốt lõi không phải là lập ra 1 cái danh bạ mà là phải tạo ra 1 việc gì đó để làm cùng nhau. Và Viện toán cũng là 1 trong số những việc mà tôi cố gắng tạo ra để phục vụ 1 phần cho điều đó. [Hiện có vẻ như 2 dự án mà anh Châu dành nhiều tâm huyết nhất với sức ảnh hưởng của mình để cống hiến cho nước nhà, cụ thể là toán học, khoa học VN đó là Viện Toán cao cấp và Quỹ NCKH.]

Anh Vinh K11: Nói thật với anh là em có gặp mấy anh PhD và Postdoc… và em thấy có 1 điểm chung là các anh ấy đều khá lập dị và… chưa có vợ. Vậy anh có thể cho em biết ý kiến của anh về vai trò của việc lập gia đình sớm đối với sự phát triển sự nghiệp? [=))))]
AC: (Cười). Một số người yêu toán quá dồn toàn bộ suy nghĩ của mình vào toán học. Họ chỉ dùng lập luận, coi cả cuộc sống là đối tượng toán học mà bỏ qua khả năng quan sát. Trong khi toán học cũng là một phần của cuộc sống, nhưng không phải tất cả. Phụ nữ không phải đối tượng của toán học (cười). Tôi chỉ cho rằng nên biết cân bằng cuộc sống, vậy thôi. Còn điều này cũng phụ thuộc vào tính cách và khả năng của mỗi người, tôi không có bình luận gì về chuyện lấy vợ sớm hay muộn cả.

Hỏi: Gần đây có 1 bác trí thức lớn tuổi đến nói chuyện với FYT và theo bác quan niệm thì trí thức ngoài công việc chuyên môn của mình thì cần có thái độ chính trị rõ ràng và có khả năng định hướng dư luận xã hội. Anh nghĩ thế nào về điều này? Và đặc biệt là khi blog thichhoctoan của anh đang đóng cửa?
AC: Tôi cho rằng trí thức trước hết là những người làm tốt công việc chuyên môn, làm tốt thiên thức của mình. Nên tôi không đồng ý với ý kiến như vậy. Theo tôi điều đó là tùy mỗi người thôi mặc dù tôi thì tôi cũng có thái độ chính trị của riêng mình. Blog của tôi đang tạm ngưng đóng cửa mà thôi. Sở dĩ như vậy không phải vì có thế lực chính trị nào đó như người ta nghĩ mà quan trọng là tôi không hài lòng với những gì tôi đã viết. Nó hơi bông đùa, lúc đầu viết ra cũng khoái chí lắm [:))], nhưng sau cái bông đùa đấy nó thành nặng nề, không hay nữa. Và tôi thấy cần phải thay đổi cách viết, cách truyền đạt. Và vì vậy phải làm lại tất cả từ đầu.

Hỏi: Vì sao thay đổi ạ?
AC: Vì vị trí xã hội thay đổi.

Hỏi: Thế sẽ theo hướng nào ạ, bông đùa hơn hay là … ))?
AC: À, tất nhiên là theo hướng nghiêm túc hơn :d.

Anh Hiếu Cao K10: Trong phim Spiderman có 1 câu là “Sức mạnh lớn, trách nhiệm lớn”, anh nghĩ thế nào về điều này?
AC: Cái đấy là về sự lựa chọn. Quả thực là cách đây 2 năm, tôi không bao giờ nghĩ là mình có thể làm những việc như bây giờ mình đang làm, xây dựng Viện hay quỹ… Nhưng giờ thì tôi có điều kiện làm những việc đấy, và là do tôi lựa chọn như thế. Ngoài ra thì khi lựa chọn, mình cũng phải đặt ra những giới hạn cho sự lựa chọn đó. Tôi tâm huyết với việc gây dựng Viện nhưng chắc chắn cũng sẽ có những việc mà tôi không làm nếu chỉ để gây dựng Viện, ví dụ như vậy.

Chị Minh K9: Thưa GS, người ta hay nói là học sinh trường chuyên hay đần *Đùa chứ, cả phòng phọt cười =))).*. Em muốn hỏi là ở tuổi bọn em bây giờ thì GS như thế nào [=)))] và GS học về cuộc sống từ đâu và theo GS thì làm thế nào để phát triển toàn diện học sinh trường chuyên? [Phát hiện ra chị Minh rất có khiếu làm mọi người cười =)))).]
AC: Em yên tâm 1 điều là ở tuổi em tôi cũng ngây thơ như các em bây giờ thôi. [=).] Hồi xưa tôi phản ứng rất chậm, bây giờ đỡ chậm hơn ). Điều đó cần một quá trình rèn luyện.
Học sinh chuyên ở mình thì thường dành nhiều thời gian học tập, ít có kỹ năng giao tiếp xã hội. Theo tôi thì cho các em tham gia thêm hoạt động. Người Việt mình khá kém trong chuyện tạo ra niềm vui cho nhau. Ví dụ học sinh bây giờ gặp nhau chơi game được cả ngày, chính việc chơi game này chứng tỏ việc không tổ chức được những hoạt động khác để chơi. Chơi game thì rất dễ, chỉ cần vài cái máy tính nối với nhau là chơi được. Trong khi có những hoạt động khác đòi hỏi khả năng tổ chức nhiều hơn. Con người cần chủ yếu trau dồi 3 thứ: suy nghĩ; khả năng giao tiếp, khó nhất là đặt mình vào địa vị người khác để hiểu họ và cuối cùng là diễn đạt ý tưởng của mình. Nói chung là tôi thấy chơi game chẳng giúp ích gì trong những việc đó cả. Các em nên tự tạo niềm vui nhiều hơn.
Ngoài ra thì còn 1 số câu hỏi nữa có tầm vĩ mô như toán học đang đi về đâu, 1 số có tầm siêu hình như mối quan hệ toán học và triết học và nhận thức =), 1 số về Đàm Thanh Sơn hay lịch làm việc của GS :-j, nhưng nhìn chung là hôm nay tán gẫu với anh Châu là chính )). Có 1 vài ý Hà cho là quan trọng và có giá trị nhất thì Hà đã bôi đen ở trên. Những bài học làm người, bài học thành công anh đưa lại có lẽ không có gì mới, nhưng có 1 sự thú vị khi chúng được truyền đạt từ anh ). Anh thể hiện và (có vẻ) cũng muốn nhấn mạnh rằng anh là 1 người hết sức bình thường, 1 cuộc sống bình thường, công việc bình thường, gia đình bình thường, 1 người làm khoa học nhưng không xa rời cuộc sống, rất hay giao lưu (ít nhất là trong giới) và rất yêu gia đình, chú trọng việc giáo dục con cái, cảm giác như anh có 1 sự giáo dục nền tảng rất tốt, rất truyền thống, đúng mực, điềm đạm, hiểu biết.
Trừ 1 vài đoạn khách mời hay quá đà cướp diễn đàn =) với 1 vài câu hỏi mang tính phóng sự đời tư ) thì hôm nay khá ổn về không khí (công quá lớn của MC Hiếu Đinh bảo vệ diễn đàn =)), anh Châu có vẻ cũng có thiện cảm với FYT, chắc thấy bọn này cũng có vẻ sáng sủa, trò chuyện hợp, bông đùa hợp )).
Theo Lê Việt Hà

Wednesday, June 29, 2011

Giáo sư Ngô Bảo Châu đến HUẾ

Giao su Ngo Bao Chau den Hue
Giáo sư Ngô Bảo Châu sẽ đến HUẾ vào ngày 1/7/2011
Hội Toán học Huế xin thông báo
GS. Ngô Bảo Châu, nhà Toán học Việt Nam đầu tiên nhận huy chương Fields, một trong các huy chương danh giá nhất của Toán học, sẽ đến thăm, làm việc với Đại Học Huế, trường Đại Học Sư Phạm Huế và có buổi nói chuyện, giao lưu với sinh viên khoa toán, cán bộ giảng dạy toán của Đại học Huế, học sinh chuyên toán cũng như giáo viên Toán trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Buổi nói chuyện và giao lưu của giáo sư Ngô Bảo Châu sẽ được tổ chức tại Phòng hội tầng 3, khu nhà hiệu bộ, trường Đại Học Sư Phạm, Đại Học Huế, 32 Lê Lợi Huế, vào lúc 15g00 ngày 01/07/2011.
Chuyến viếng thăm và làm việc của GS. Ngô Bảo Châu là cơ hội quý giá của những người nghiên cứu và giảng dạy Toán trên địa bàn Tỉnh. Buổi nói chuyện và giao lưu là dịp cho cán bộ trẻ, sinh viên, học sinh PTTH có cơ hôi giao lưu và và học hỏi kinh nghiệm học tập và nghiên cứu Toán từ nhà Toán học Ngô Bảo Châu.

Kính mời tất cả quý đồng nghiệp, sinh viên toán và học sinh chuyên toán tham dự.

Thông báo này thay cho giấy mời.
Huế ngày 27 tháng 06 năm 2011
Tổng Thư ký HTH Huế
PGS.TS. Đoàn Thế Hiếu

Liên hệ: Đoàn Thế Hiếu, Khoa Toán, ĐHSP Huế, email: dthehieu@yahoo.com.

Cập nhật ngày 2/7/2011:
“Muốn giỏi chúng ta phải có niềm đam mê. Trong thời gian từ năm 2003 đến năm 2004, tôi đã từng gặp những khó khăn thậm chí có thể bỏ dở công việc nghiên cứu toán học… Niềm đam mê cùng với sự kiên trì, tự tin trước mọi vấn đề sẽ giúp bạn thành công”.

Đó là lời khuyên của GS Ngô Bảo Châu - chủ nhân giải thưởng toán học Fields danh giá dành cho sinh viên ĐH Sư phạm Huế trong buổi giao lưu chiều hôm qua 1/7.



Buổi giao lưu nằm trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc của GS Toán học Ngô Bảo Châu tại ĐH Huế ngày 1/7. Tại buổi làm việc, sau khi nghe giám đốc ĐH Huế - PGS.TS. Nguyễn Văn Toàn giới thiệu khái quát về ĐH Huế, GS Ngô Bảo Châu khẳng định cần có các bước để xây dựng ĐH Huế lớn mạnh xứng đáng là trung tâm đào tạo nhân lực cho miền Trung và Tây Nguyên. Trong đó, nên tập trung đầu tư cho các dự án, đề án nghiên cứu khoa học; quan tâm chú ý đến giáo dục người trẻ và tiếp nhận người trẻ.
PGS.TS. Nguyễn Văn Toàn bày tỏ mong muốn GS Ngô Bảo Châu sẽ tạo điều kiện để những người nghiên cứu, giảng dạy môn Toán trên địa bàn tỉnh và sinh viên ĐH Huế có nhiều cơ hội tiếp cận với toán học hiện đại. Và hỗ trợ để các giảng viên tại Huế có điều kiện tham dự những hội nghị toán học trong nước và quốc tế, được đi đào tạo ở các trung tâm toán học lớn trên thế giới nhằm giúp ngành Toán học ở Huế phát triển.

Chiều cùng ngày, GS Ngô Bảo Châu đã có buổi nói chuyện về toán học và giao lưu với đông đảo HS, SV tại Trường ĐH Sư phạm Huế. Tại buổi nói chuyện, GS Ngô Bảo Châu đã trình bày bài giảng về chủ đề “Dựng hình bằng thước kẻ và compa”.

Trong phần giao lưu, các HS, SV và nhiều giảng viên trẻ Trường ĐH Sư phạm Huế đã đặt nhiều câu hỏi với GS Ngô Bảo Châu về những khó khăn trong việc chứng minh Bổ đề cơ bản; những yếu tố dẫn đến niềm đam mê của GS đối với toán học; kinh nghiệm giải những bài toán khó, cách học toán hiệu quả...

GS Ngô Bảo Châu đã trả lời những câu hỏi và đã có nhiều chia sẻ về việc học tập, nghiên cứu toán học và những ước mơ, quan điểm sống của mình. GS Ngô Bảo Châu cũng cho biết về những hoạt động sắp tới của Viện nghiên cứu cao cấp về toán mà GS vừa được bổ nhiệm làm giám đốc khoa học…

Trong buổi chiều giao lưu với SV, có nhiều ý kiến hỏi của các bạn HS, SV về việc làm thế nào để học tốt môn Toán cũng như bí quyết của GS trong việc giải mã những vấn đề lớn của toán học. GS Ngô Bảo Châu cho rằng: “Muốn giỏi chúng ta phải có niềm đam mê. Trong thời gian từ năm 2003 đến năm 2004, tôi đã từng gặp những khó khăn thậm chí là có thể bỏ dở công việc nghiên cứu toán học, Tuy nhiên khi được các thầy giáo của mình ở Pháp cho những lời khuyên bổ ích, tôi đã quyết định gắn bó cuộc đời mình với toán học. Niềm đam mê cùng với sự kiên trì, tự tin trước mọi vấn đề sẽ giúp bạn thành công”.

Theo GS Châu, hiện nay nhiều gia đình hay áp đặt các em học sinh từ lúc học cấp 3 thường định hướng thi vào những ngành mà khi ra trường công việc được dễ dàng thuận lợi. Đó là một trong những nguyên nhân đẫn đến tỷ lệ sinh viên đăng ký thi tuyển vào ngành Toán và Toán - Tin trong những năm gần đây tại các trường đại học ở nước ta có xu hướng giảm nhiều. Cũng có rất ít cán bộ trẻ được đào tạo tu nghiệp ngành Toán ở nước ngoài khi ra trường lại không muốn về nước làm việc vì điều kiện học nước ngoài thường khác hơn so với điều kiện nghiên cứu trong nước.

Về sự phát triển của ngành Toán, GS cho biết “Trong thời gian tới, Viện nghiên cứu cao cấp về Toán Việt Nam sẽ tập hợp các giáo sư Toán tại trường đại học lớn ở TPHCM, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ, Hà Nội cùng nhau ngồi lại bàn luận, nhìn nhận các vấn đề khó khăn đang đặt ra cho việc nghiên cứu toán học tại Việt Nam để tháo gỡ nhằm tiến tới phát triển ngành Toán lên một tầm vóc mới”.

Ảnh: Lao Động, Bài: Dân Trí

Thursday, April 14, 2011

Blog Thích Học Toán của Ngô Bảo Châu tạm thời đóng cửa

Mấy ngày gần đây, cư dân mạng xôn xao vì sự ra đi đột ngột của blog nổi tiếng của ngài "Nobel Toán học". Blog Thích Học Toán của Giáo sư Ngô Bảo Châu đã đóng cửa! (tạm thời)
Blog Thich Hoc Toan cua Ngo Bao Chau dong cua
Blog thichhoctoan của GS Ngô Bảo Châu đã được bảo vệ
Đây là lời tạm biệt của Hòa thượng Thích Học Toán gửi cư dân mạng:
Tạm biệt
Chùa Thích Học Toán tạm đóng cửa từ ngày hôm qua. Bần đạo cáo lỗi với
bạn bè vì hành động đột ngột này.
Nhờ vào cái sân chùa này, bần đạo đã có chỗ để chia sẻ những suy nghĩ
của mình với bạn bè, và đổi lại bần đạo cũng đã học được rất nhiều từ các bạn.
Mỗi ngày đi qua, cái nhu cầu làm mới lại mình bằng sự tĩnh lặng trở nên
cần thiết hơn.
Vậy bây giờ là thời điểm để dừng lại và suy nghĩ. Không thể dừng lại
mà không nói một lời chia tay.
Hẹn có ngày tái ngộ,
Thích Học Toán

Hy vọng có ngày lại được tái ngộ Giáo sư trên thế giới ảo này! Chúc Hòa thượng tu thành chính quả!

Wednesday, March 9, 2011

Thành lập viện Nghiên cứu cao cấp về Toán và bổ nhiệm Ngô Bảo Châu làm giám đốc khoa học

Ngày 9/3/2011, Bộ Giáo dục - Đào tạo tổ chức Lễ công bố quyết định thành lập Viện nghiên cứu cấp cao về Toán và bổ nhiệm GS Ngô Bảo Châu làm Giám đốc khoa học của Viện. Phát biểu tại buổi lễ GS Ngô Bảo Châu cho biết: “Đây là ngày đáng nhớ của lịch sử Toán học Việt Nam”.

Tham dự buổi lễ có Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân; Bộ trưởng Bộ GD - ĐT Phạm Vũ Luận; ông Robert J.Zimmer, Hiệu trưởng Đại học Chicago (Mỹ) cùng GS.TSKH Ngô Huy Cẩn - bố của GS Ngô Bảo Châu.
Quyết định của Bộ GD-ĐT bổ nhiệm GS Ngô Bảo Châu làm Giám đốc khoa học Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán trong thời gian 3 năm, làm việc kiêm nhiệm tại Viện.
Vien nghien cuu cao cap ve toan, ngo bao chau giam doc khoa hoc
Ông Nguyễn Thiện Nhân trao Quyết định thành lập Viện Nghiên cứu cấp cao về Toán cho GS Ngô Bảo Châu
Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán là tổ chức khoa học và công nghệ công lập hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu toán học trực thuộc Bộ GD-ĐT. Mục tiêu của Viện là trở thành một trung tâm toán học xuất sắc, có môi trường làm việc tương đương với một số nước phát triển về Toán, để trao đổi học thuật nhằm nâng cao năng lực khoa học của các nhà nghiên cứu, giảng dạy và ứng dụng toán học Việt Nam.

Giám đốc Khoa học là người đứng đầu Viện, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về toàn bộ hoạt động nghiên cứu khoa học và hỗ trợ đào tạo nhân tài của Viện.

Phát biểu tại buổi lễ, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cho biết: “Toán học Việt Nam có quá trình phát triển hơn 40 năm đã đạt được những thành tựu to lớn trong đó đỉnh cao là giải thưởng Fields của GS Ngô Bảo Châu. Viện nghiên cứu cấp cao về toán thành lập với chức năng quy tụ các nhà toán học trong nước và thế giới, tôi tin tưởng vào Bộ GD-ĐT sẽ hỗ trợ tốt nhất cho Viện hoạt động trong thời gian tới”.

Phó Thủ tướng cũng đã đề nghị Bộ GD-ĐT phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ để tạo điều kiện thuận lợi nhất, tốt nhất cho Viện đi vào hoạt động.
Vien nghien cuu cao cap ve toan, ngo bao chau giam doc khoa hoc
Bộ trưởng Phạm Vũ Luận trao Quyết định bổ nhiệm GS Ngô Bảo Châu làm Giám đốc khoa học Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán
Về phía Bộ GD-ĐT, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận khẳng định sẽ chủ động trên nhiệm vụ, thẩm quyền, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho Viện Nghiên cứu cấp cao về Toán hoạt động, cũng như tạo điều kiện cho các nhà khoa học trong và ngoài nước đến làm việc tại Viện.
Với GS Ngô Bảo Châu, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận hy vọng bằng uy tín, kinh nghiệm của GS sẽ đóng góp cho Viện hoạt động tốt và phát triển.
Ngo bao chau, giam doc khoa hoc, vien toan cao cap
Niềm vui của Giáo sư Ngô Bảo Châu trong ngày trọng đại của Toán học Việt Nam
Phát biểu tại buổi lễ GS Ngô Bảo Châu khẳng định: “Hôm nay  là ngày chính thức thành lập Viện Nghiên cứu cấp cao về Toán là ngày đáng nhớ cho lịch sử Toán học Việt Nam. Thay mặt cộng đồng Toán học Việt Nam tôi cảm ơn Chính phủ, Nhà nước đã phê duyệt Chương trình trọng điểm toán học Việt Nam, trong đó thành lập Viện nghiên cứu cấp cao về Toán. Trách nhiệm của cá nhân với vai trò là giám đốc khoa học của Viện là rất lớn. Tôi sẽ cố gắng trong khả năng của mình đảm bảo cho hoạt động khoa học của Viện đúng với tinh thần, mục tiêu đặt ra ban đầu là nghiên cứu giảng dạy toán học và lôi cuốn các nhà toán học trong và ngoài nước tới Viện”.
Để làm được điều đó, theo GS.Ngô Bảo Châu, việc quan trọng là tạo ra được hướng nghiên cứu mới về Toán học.
tuyensinhvnn.com (Dân Trí)

Tuesday, March 8, 2011

Giáo sư Ngô Bảo Châu sẽ cống hiến nhiều hơn cho xã hội

"Thời kỳ toàn tâm toàn ý dành hết thời gian cống hiến cho khoa học của tôi đã qua. Chặng tiếp theo của tôi sẽ là thời gian cống hiến nhiều hơn cho xã hội, đặc biệt là cho giáo dục để góp phần đào tạo thế hệ trẻ" - GS Ngô Bảo Châu chia sẻ trong buổi giao lưu với sinh viên ĐH FPT.
Giáo sư Ngô Bảo Châu sẽ cống hiến nhiều hơn cho xã hội
GS Ngô Bảo Châu: "Tôi sẽ cống hiến nhiều hơn cho xã hội".
Đưa ra lời khuyên chân thành cho sinh viên Trường ĐH FPT, đúc rút từ kinh nghiệm thực tế của chặng đường làm toán của mình, GS Châu chia sẻ: “Quan trọng nhất với con người là không bao giờ dối mình, mà hãy làm những việc mình thật sự thích. Cảm giác thường trực khi nghiên cứu toán học của tôi là sự bế tắc. 100 ngày thì có đến 99 ngày bế tắc, chỉ có 1 ngày là le lói những ý tưởng mới. Nhưng quan trọng là ý tưởng đó, sự đam mê theo đuổi ý tưởng đó đủ đem đến cho mình niềm tin cho 100 ngày còn lại”.
Tâm sự về giải thưởng Fields, GS Châu cho biết: “Năm 2003, tôi bắt đầu theo đuổi Bổ đề cơ bản. Đến năm 2007, tôi cảm giác không tìm ra hướng đi để tiếp tục theo đuổi đề tài này. Sau đó, trong một lần trò chuyện cùng một người đồng nghiệp cùng giới khoa học, tôi đã tìm được gợi ý về cách giải quyết cho vấn đề mình đang bế tắc, và nhờ đó tôi chứng minh được bổ đề cơ bản, đồng thời dành giải thưởng Fields cao quý".
"Với người làm khoa học rất cần môi trường với nhiều người cùng làm khoa học khác xung quanh mình. Họ sẽ là người để cùng chia sẻ, và nhiều khi là người khơi gợi cảm hứng hoặc vô tình mang lại lời giải cho một bài toán khó tưởng như không thể chứng minh được. Đó là một trong những lí do mà tôi chọn ở nước ngoài để theo đuổi toán học. Để có thành công trong bất kì lĩnh vực nào, bạn cần đam mê, và quan trọng là nuôi được đam mê đó lâu dài" - GS Châu cho hay.
GS Châu khẳng định: "Thời gian toàn tâm toàn ý dành hết thời gian cống hiến cho khoa học của tôi đã qua. Chặng thời gian tiếp theo của tôi sẽ là thời gian cống hiến nhiều hơn cho xã hội, đặc biệt là cho giáo dục để góp phần đào tạo thế hệ trẻ".
Ngo Bao Chau giao luu voi sinh vien FPT
GS Ngô Bảo Châu và GS Hồ Ngọc Đại tại buổi giao lưu với sinh viên Đại học FPT
Một bất ngờ trong buổi giao lưu dành cho GS Ngô Bảo Châu, đó là Trường ĐH FPT "bí mật" mời GS Hồ Ngọc Đại - thầy giáo của GS Ngô Bảo Châu cùng tham gia trò chuyện.
Trong buổi giao lưu, GS Hồ Ngọc Đại đã "bật mí" nhiều chi tiết về cậu học trò nhỏ Ngô Bảo Châu mà giáo sư nhận xét là “từ nhỏ đã rất thật”, đồng thời với tâm huyết của một nhà giáo dục, GS Hồ Ngọc Đại cũng chia sẻ quan điểm về giáo dục hiện đại cũng như trả lời nhiều câu hỏi của sinh viên.
tuyensinhvnn.com (Theo Dân Trí)

Sunday, February 6, 2011

GS Ngô Bảo Châu: "Tôi đang thất bại trên cương vị người thầy"

"Là học trò thì tôi có vẻ thành công nhưng dường như trên cương vị người thầy, tôi lại đang thất bại. Đến nay, tôi hướng dẫn 2 học trò làm nghiên cứu sinh nhưng cả 2 đều bỏ dở" - GS Ngô Bảo Châu.
GS Ngô Bảo Châu:

Vững vàng trước khen chê

Thông thường, khi ta đã đạt một đỉnh cao nhất định, có thành tựu và được biết đến, xã hội và mọi người sẽ chờ đợi nhiều hơn ở ta. Tuy nhiên, trong nhiều chuyện, tôi biết chắc mình có thể làm thầy người khác nhưng vẫn muốn làm học trò. Bây giờ, tôi muốn đi học lại từ đầu như một cậu tân sinh viên!

Tất nhiên, không phải lúc nào tôi cũng đặt mình ở vị trí học trò, nhún nhường như một người đi học lại từ đầu. Nhưng không đặt mình ở vị trí học trò, của một người đi học thì rất khó để làm mới mình và chinh phục những đỉnh cao mới trong học thuật. Hơn nữa, làm học trò lần thứ hai sau khi đã làm thầy rồi bao giờ cũng dễ hơn, bởi mình đã trưởng thành hơn, đã đủ va chạm và vững vàng hơn trước những khen chê.

Ngay sau khi thành công với Bổ đề cơ bản - chứ không phải đợi đến khi nhận Giải Fields, tôi đã bắt tay nghiên cứu những lĩnh vực mới mà mình chưa biết tí gì.

Tôi hỏi những người xung quanh là nên đọc sách gì và lại vùi đầu trong thư viện. Nói chung, tôi luôn học lại từ đầu. Bổ đề cơ bản chỉ là ngưỡng nhất định mà mục đích của tôi đến với toán học còn rất xa.

Khi bắt tay nghiên cứu Bổ đề cơ bản, tôi biết mình phải học những gì, tiếp cận những công cụ nào để giải quyết.
"Thà để lại điều gì đó nhỏ thôi một cách âm thầm còn hơn là tạo ra một đống to đùng nhưng không có tác dụng gì" - GS Ngô Bảo Châu.

Bây giờ muốn đi xa hơn, tôi phải học lại để nắm bắt những công cụ mới, bắt đầu từ cơ sở của vấn đề. Điều này hết sức bình thường. Toán học rất rộng lớn, tôi không thể biết hết các công cụ.

Vì thế, nếu muốn biết được các công cụ mới để nghiên cứu những lĩnh vực mới, không còn cách nào khác là phải học lại từ đầu. Tất nhiên, tôi có thể học nhanh hơn sinh viên nhưng tâm thế thực sự phải là của một người đi học.

Nói đến chuyện học, tôi nhớ đến nhà toán học Langlands, cha đẻ chương trình Langlands. Ông là một người đặc biệt bởi khả năng tiên tri.

Langlands là con nhà tiều phu, không học trường danh giá, cũng không làm PhD (tiến sĩ) với thầy giỏi. Ông luôn độc lập nghiên cứu, tự học, thậm chí chẳng thèm đi theo luồng chính của toán học.

Langlands đã đưa ra nhiều công thức làm tiền đề cho chương trình Langlands. Ông đã chứng minh được các dự đoán của mình là đúng trong những trường hợp đặc biệt bằng các công thức hết sức phức tạp. Nếu công thức đó đúng thì rất nhiều định lý khác cũng sẽ đúng.

Khi Langlands đưa ra Bổ đề cơ bản, rất nhiều định lý đã ra đời trên cơ sở bổ đề này. Sau 30-40 năm từ khi Langlands đưa ra bài toán Bổ đề cơ bản, những cái đầu “to” nhất của toán học thế giới đều đã bó tay.

Trong quãng thời gian đó, các ngành khác cũng phát triển và rất nhiều lý thuyết dựa vào chương trình Langlands. Một giáo sư toán học người Canada dạy ở Mỹ đã viết hàng trăm công trình nhưng nếu Bổ đề cơ bản sai thì tất cả công trình của ông đều... đi tong.

Tránh ngộ nhận, ngụy biện

Tôi nhớ mãi bài báo của một nhà toán học người Anh tôi đọc được năm 2003, khi còn là nghiên cứu sinh ở Pháp, nói về phương trình đạo hàm riêng mô tả hạt cơ bản (hạt X).

Chứng minh phủ định sự tồn tại của hạt X vẫn là một vấn đề còn nhiều tranh cãi. Tác giả bài báo nghiên cứu hạt X bằng đại số. Tôi học khá sâu về đại số nên rất thích bài này và đọc rất nhiều lần, dù chỉ một lần là hiểu.

Thời điểm ấy, tôi bắt đầu nghiên cứu Bổ đề cơ bản. Tôi nghĩ rằng bài báo này chắc chắn sẽ giúp mình làm được một điều gì đó, ít nhất là tư tưởng tỏa ra từ nó.

Một vấn đề xuất phát điểm là toán học thuần túy, được đại số hóa nhưng lại cho mình những lời giải rất hay, có tính chìa khóa để mở ra nhiều vấn đề trong cuộc sống.

Ngày nay, sách báo không thiếu nhưng vấn đề là làm thế nào để đọc được những thứ cần đọc. Tôi cho rằng đó chính là vai trò của môi trường khoa học, nơi cung cấp cho ta hướng đi đúng đắn.

Có một cách hay để rút ngắn thời gian là hỏi những người đi trước, họ sẽ biết rất rõ sách nào nên và không nên đọc. Nhưng không phải có sách trong tay rồi thì đọc ngấu nghiến là sẽ có thể hiểu hết. Nếu chưa đặt ra câu hỏi, mình vẫn chưa thể tiếp cận được vấn đề.

Nhìn chung, đơn thương độc mã tự giải quyết vấn đề sẽ thất bại nhưng ít ra, sau thất bại ấy, ta cũng đã có được những khúc mắc về vấn đề đang tìm hiểu. Thế nên, đầu tiên là phải khoanh vùng những gì cần học, cần đọc. Khi tìm được câu hỏi rồi thì quay lại vấn đề sẽ vỡ ra nhiều điều.

Tôi đã học được một điều là nếu có gì khúc mắc thì phải diễn đạt ra được bằng một câu hỏi rành mạch. Khi có câu hỏi tốt rồi thì vấn đề đã được giải quyết đến 50%.

Tôi không tuyệt đối hóa vai trò toán học trong cuộc sống của mình. Thế nhưng, toán học giúp tôi phân tích mạch lạc, đâu là dữ kiện, đâu là đáp số. Tôi thấy nhiều người không thể phân biệt điều này nên dẫn đến những sai lầm.

Tôi cho rằng những người học toán và có tư duy toán học có ưu thế là giúp mình tránh ngộ nhận và ngụy biện. Có những suy diễn kiểu như 1 đúng, 2 đúng, suy ra 3-4 cũng phải đúng nhưng thông thường thì cái 3 đã sai rồi. Ngụy biện là tranh luận cho sướng miệng, coi nặng hơn thua mà không cần biết đúng sai.

Công cụ hữu hiệu nhất của tư duy là so sánh. Khi giải quyết được một vấn đề thì khi gặp vấn đề tương tự, nhìn chung những người có tư duy toán học có thể giải quyết tốt.

Thầy và trò

Là học trò thì tôi có vẻ thành công nhưng dường như trên cương vị người thầy, tôi lại đang thất bại. Đến nay, tôi hướng dẫn 2 học trò làm nghiên cứu sinh nhưng cả 2 đều bỏ dở.

Có lẽ tôi đã có chủ quan khi nhận học trò, chọn người làm việc cùng. Tôi từng nghĩ vấn đề mình đặt ra là phù hợp, nếu cần tôi có thể giúp, thậm chí làm thay họ. Nhưng sau một thời gian, tôi nhận ra kể cả mình có thể làm thay từ A đến Z thì cũng không thể nhét vào đầu họ được nếu họ không tự lao động.

Tôi nhận ra rằng áp đặt logic tư duy vào người khác là rất khó. Để làm việc với nhau được, ý tưởng người thầy phải dẫn dắt, trùng khớp với ý tưởng học trò. Tôi không thành công với các học trò của mình nhưng lại thành công với những người thầy và người đi trước là vì điều này. Nếu tư tưởng và ý chí trùng khớp thì ta sẽ làm việc được với nhau rất lâu.

Tôi rất biết ơn các thầy mình, nhất là thầy Gérard Laumon. Cả thế giới chỉ mình ông có hai sinh viên được Giải Fields.

Thời là nghiên cứu sinh, nhiều khi tôi định dùng “thủ thuật” để gây áp lực cho thầy nhưng đều không qua mắt được ông. Trong cuộc sống, ông là người rất chan hòa, luôn quan tâm, lắng nghe học trò. Có những quãng thời gian tôi cảm thấy rất khó khăn, nhất là giai đoạn làm Master, tôi bị lạc hướng hoàn toàn.

Làm việc với thầy Laumon, tôi đã biết được núi nào đáng leo trong toán học. Ông đã hướng dẫn tôi vượt từng ngọn núi, đầu tiên là đọc 45 trang sách trong vòng 3 tháng.

Giờ đã là người trưởng thành rồi nhưng cứ 2 tuần một lần, tôi lại gọi điện cho ông để chuyện trò, nhiều khi chỉ là những tâm sự trong cuộc sống, thậm chí chuyện “trời ơi đất hỡi”.
tuyensinhvnn.com (Theo NLD)

Friday, February 4, 2011

Ngô Bảo Châu và Bổ đề cơ bản lên lịch Tân Mão 2011

Ngô Bảo Châu và Bổ đề cơ bản trong bộ lịch Tân Mão 2011: Download
Công ty Cổ phần Công nghệ Tinh Vân với sự đóng góp của GS Ngô Bảo Châu, họa sĩ Lê Tâm, thiết kế Đinh Anh Quân đã phát hành lịch Tân Mão 2011 gồm 12 tranh với chủ đề Bổ Đề Cơ Bản…
Lịch Tân Mão 2011 với chủ đề Ngô Bảo Châu, Bổ đề cơ bản
Tháng tám mùa thu năm Canh Dần, tức 2010 dương lịch, Việt Nam hân hoan đón nhận tin GS. Ngô Bảo Châu đoạt giải thưởng Fields, giải thưởng danh giá tương đương với giải Nobel cho Toán học. GS. Ngô đã chứng minh sáng sủa “Bổ đề Cơ bản”, là bí kíp vô cùng quan trọng trong bản tổng phổ Langlands – Chương trình kết nối mọi lĩnh vực của toán học hiện đại. “Bổ đề Cơ bản” tuy chỉ là một vấn đề kỹ thuật, nhưng nó đã gây lúng túng cho nhiều cao thủ hơn 30 năm qua. Thành tựu đột phá của Ngô giúp các nhà toán học tiến lên trong việc chinh phục cả “Chương trình Langlands”.
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
Lý thuyết số
Lepold Kronecker (1823-1891)
Để hiểu “Bổ đề Cơ bản” ta cần có khái niệm về lý thuyết số. Số là cách thức con người nguyên thủy ghi lại số lượng các đối tượng như súc vật nuôi, bạn bè, khách hàng… Năm 700 TCN người Babylon đã phát minh ra số 0, sau được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực tài chính. Nhà toán học Đức Kronecker từng nói: “Chúa trời đã tạo ra các số nguyên, phần việc còn lại là của chúng sinh”. Nhà toán học Pháp Pierre de Fermat được coi là sư tổ của lý thuyết Số hiện đại đồng thời là tác giả “Định lý Fermat lớn”, định lý đã làm chấn động toán lâm và điên đầu vô số hảo thủ trong gần bốn thế kỷ.
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
Evariste Galois (1811-1832)
Lý thuyết Nhóm là ngành nghiên cứu về các cấu trúc đại số có tính đối xứng. Lý thuyết Nhóm đặc biệt được ứng dụng rộng rãi trong vật lý hiện đại, được xuất hiện lần đầu trong công trình của nhà toán học mãi mãi tuổi 21 người Pháp Évariste Galois vào năm 1830. Rất nhiều cấu trúc toán học khác nhau được quy về cấu trúc Nhóm. Đặc biệt quan trọng là các nhóm Lie, được xem như là họ của các phép đối xứng biến đổi trơn tru. GS. Ngô đã chứng minh “Bổ đề Cơ bản” cho trường hợp riêng với nhóm Unita vào năm 2004 và tổng quát với toàn bộ nhóm Lie năm 2008.
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
Pierre de Fermat (1601-1665)

Năm 1637 đại sư tổ môn phái toán học Pháp là Pierre de Fermat đã viết vào lề cuốn “Số học” của Diophante thời Hy Lạp cổ đại mấy dòng chữ sau: “Phương trình xn+ yn=zn không có nghiệm nguyên dương khi n lớn hơn 2. Tại hạ đã tìm được cách chứng minh tuyệt vời nhưng đáng tiếc lề sách không đủ rộng để ghi ra đây”. Điều khẳng định bí ẩn trên, sau được gọi là “Định lý Fermat lớn” đã trở thành một thách đố làm bối rối những bộ óc vĩ đại nhất của nhân loại. “Định lý Fermat lớn” chỉ được chứng minh triệt để vào năm 1995 bởi nhà toán học Anh A. Wiles.
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
Giải thuyết Taniyama – Shimura

Hai nhà toán học Nhật Bản Y. Taniyama và G. Shimura
Giữa thế kỷ 20, hai cao nhân Nhật Bản là Yukata Taniyama và Goro Shimura đưa ra phỏng đoán thiên tài là mỗi phương trình eliptic đều có liên hệ với một dạng modular. Nếu đúng, giả thuyết này sẽ giải quyết nhiều bài toán số học cho đến any chưa giải quyết được bằng cách tiếp cận qua thế giới hình học. Mùa thu năm 1984 nhà toán học Gerhard Frey đã kết luận rằng nếu chứng minh được “Giả thuyết Taniyama – Shimura” thì cũng có nghĩa là chứng minh được “Định lý Fermat lớn”, bởi vì định lý này chỉ là một hệ quả của giả thuyết trên.
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
Robert Phelan Langlands (1936)
Trong những năm 60, nhà toán học Canada R. Langlands đưa ra một loạt giả thuyết về những mối liên hệ giữa nhiều ngành toán học vốn rất khác nhau, và kêu gọi giới toán học quốc tế hợp tác chứng minh những giả thuyết đó, cấu thành “Chương trình Langlands”.
Ngô Bảo Châu nhận xét: “Các giả thuyết Langlands là động lực cho sự phát triển của toán học lý thuyết trong vòng bốn chục năm trở lại đây. Rất nhiều bài toán tưởng như là những viên gạch riêng lẻ, nay được các giả thuyết của Langlands sắp xếp lại thành một công trình kiến trúc vĩ đại…”
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
Andrew John Wiles (1953)Hứng thú với “Giả thuyết Tayniyama – Shimura” và “Định lý Fermat lớn”, nhà toán học Anh A. Wiles đã âm thầm nhập thất, đóng cửa luyện công trong bảy năm liền để tìm kiếm lời giải cho bài toán xuyên thế kỷ. Dù trong quá trình khổ luyện có lúc tẩu hỏa nhập ma, nhưng với bản lĩnh cao cường năm 1995, A. Wiles đã tái xuất giang hồ và công bố cách chứng minh “Định lý Fermat lớn”, chấm dứt 358 năm căng thẳng của toán giới. Nhưng kết quả có ý nghĩa lớn hơn nhiều là “Giả thuyết Tayniama – Shimura” được chứng minh
đồng nghĩa nền tảng “Chương trình Langlands” là vững chắc.
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
Công thức vết Arthur – SelbergJames Arthur (1944)
Một trong những công cụ được coi là bảo bối phát triển từ “Chương trình Langlands” là “Công thức vết Arthur – Selberg”, một phương trình cho thấy có thể dùng các phương pháp hình học để tính toán những bài toán số học. Nhưng chính Langlands đã gặp một trở ngại lớn khi sử dụng bảo bối này bởi xuất hiện những tích phân quỹ đạo phức tạp. Theo Langlands các tích phân này bằng nhau nhưng ông không thể chứng minh được. Ông gọi nó là “Bổ đề Cơ bản”
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
“Bổ đề Cơ bản” gắn liền với một giả thuyết quyết định, một bộ phận không thể tách rời của “Chương trình Langlands”, khó chứng minh đến mức mà 30 năm qua nhiều cao thủ toán học hàng đầu – kể cả chính Langlands – đã ra sức lao vào giải quyết nhưng đều thất bại. GS. Ngô viết: “Bổ đề Cơ bản không hẳn là bổ đề vì ông Langlands chỉ chứng minh nó trong một trường hợp đặc biệt, còn trường hợp tổng quát thì được nêu như một giả thuyết. Còn “cơ bản” là vì cả một góc lớn của chương trình kể trên sẽ sụp đổ nếu nó không đúng”.
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
Sư phụ G. Laumon (1952)
Do vai trò đặc biệt quan trọng của “Bổ đề Cơ bản”, nhiều nhà toán học đã nỗ lực và chứng minh được một số trường hợp riêng. Năm 1979, Labesse và Langlands chứng minh được cho nhóm SL (2). Sau đó Kottwitz chứng minh cho nhóm SL(3), và Waldspurger chứng minh cho toàn bộ nhóm SL(n). Đến 2004, GS. Ngô Bảo Châu và sư phụ là GS. Laumon đã song kiếm hợp bích chứng minh cho toàn bộ nhóm unita U(n). Với kết quả này, Laumon và Ngô Bảo Châu được trao giải thưởng nghiên cứu Clay vào năm 2004.
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
Công trình được Time bình chọn là một trong 10 khám phá năm 2009. Đầu năm 2008, GS. Ngô Bảo Châu công bố một chứng minh hoàn chỉnh cho “Bổ đề Cơ bản” trong trường hợp tổng quát cho các đại số Lie. Lúc đầu công trình dài 150 trang. Sau khi lược bỏ bớt những điều không phục vụ trực tiếp cho chứng minh “Bổ đề Cơ bản” và diễn giải chi tiết hơn, công trình dài thành 188 trang. Dù ý tưởng chứng minh rất rành rọt, các nhà toán học hàng đầu vẫn phải mất hơn 1 năm để kiểm chứng nó. Năm 2009, công trình được tạp chí Time bình chọn là một trong 10 khám phá khoa học quan trọng nhất của năm.
Ngo Bao Chau, bo de co ban, lich tan mao 2011
Sự thống nhất lớn

Công trình của GS. Ngô Bảo Châu đã đặt thêm những viên gạch vững chắc cho nền móng của “Chương trình Langlands”, thống nhất mọi lĩnh vực của toán học hiện đại.
Trong vật lý hiện đại các nhà vật lý cũng đang nỗ lực cho một lý thuyết thống nhất lớn ọi là M-Theory với chữ M có gốc từ chữ Mother (mẹ). Và trong cuộc sống hằng ngày, thật kỳ diệu đôi khi chúng ta cũng cảm thấy mình là một cấu thành không thể tách rời của một vũ trụ thống nhất, vũ trụ của tính nhân bản và tình yêu thương.
tuyensinhvnn.com (Theo Tia sáng tháng 1/2011)

Thursday, February 3, 2011

Trò chuyện với mẹ của giáo sư Ngô Bảo Châu trước thềm năm mới

Một buổi chiều cuối năm, PGS.Trần Lưu Vân Hiền, mẹ của GS Ngô Bảo Châu đã đồng ý tiếp phóng viên VietNamNet tại căn hộ công vụ Chính phủ cấp ở tòa nhà Vincom, phố Bà Triệu (Hà Nội). Cô vui vẻ khi biết mục đích của phóng viên chỉ muốn có một cuộc trò chuyện nhẹ nhàng. 

Trò chuyện với mẹ của giáo sư Ngô Bảo Châu
GS Ngô Bảo Châu và mẹ tại Chicago
Năm vừa qua, sự kiện Giải thưởng Fields đã làm xáo trộn không khí gia đình không ưa sự ồn ào như gia đình GS Ngô Bảo Châu, bởi sự quan tâm quá mức của truyền thông trong nước. Rồi sự kiện nhận căn hộ của Chính phủ với những ý kiến trái chiều đã làm cả nhà một phen nữa phải đau đầu.
Cô Hiền cho biết: "Châu thấy mệt mỏi những chuyện như thế lắm, nhưng rồi cũng xác định được quan trọng là mình có thể làm được điều gì đó với quỹ học bổng về khuyến học – khuyến tài và Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán trong năm mới này".
Được hỏi mỗi khi gặp áp lực bởi truyền thông, anh Châu có tâm sự với mẹ điều gì không, cô Hiền cho biết: "Châu không nói gì cả". 
Nhưng là người mẹ đã gắn bó với đứa con trai độc nhất bao nhiêu năm, chỉ cần nhìn nét mặt là cô biết anh đang buồn hay vui. Cô Hiền nói anh Châu đã trưởng thành và có nhiều suy nghĩ chín chắn hơn cả mình nên hầu như không can thiệp vào những công việc anh làm, mặc dù cô cũng có điều lo lắng vì đã bao năm anh không sống ở môi trường trong nước.
"Chẳng hạn như sau nhiều lần về nước, Châu nhận thấy rằng cộng đồng Toán học trong nước có nhiều người tâm huyết, muốn làm một cái gì đó vì người khác, ít quan tâm đến tiền bạc; rồi những học sinh trong nước, nhiều em rất ham học, cần có người dẫn đường”. 
Trò chuyện với mẹ của giáo sư Ngô Bảo Châu
Hình ảnh về sự kiện GS Ngô Bảo Châu trên lịch do công ty Tinh Vân thiết kế
PGS Trần Lưu Vân Hiền chia sẻ thêm: Vấn đề mọi người quan ngại là việc thành lập và điều hành một viện nghiên cứu như vậy sẽ rất phức tạp, vì đó là một mô hìnhmới mẻ ở Việt Nam, nhiều khó khăn sẽ đến kể từ cơ chế , thói quen, nếp suy nghĩ và cả việc đảm bảo có được những người cộng tác đầy tâm huyết, không mảy may vụ lợi...

"Nhưng Châu có vẻ như đã nhìn thấy trước những khó khăn và có niềm tin, rằng đã có những chính sách cởi mở hơn, đã có sự ủng hộ thiết thực để viện có thể sớm hoạt động, đã có những người đã sẵn sàng cùng mình chia sẻ những khó khăn, tâm huyết vì cùng tham gia vào một việc được xem là có ý nghĩa".

 
Hình ảnh về sự kiện GS Ngô Bảo Châu trên lịch do công ty Tinh Vân thiết kế
"Tôi thấy vui vì Châu rất có ý thức đối với các hoạt động cộng đồng, góp được một chút gì đó cho thế hệ trẻ Việt Nam. Năm mới đến, đã xuất hiện các tín hiệu ban đầu tốt đẹp cho những cố gắng đó. Sau nhiều lần về Việt Nam, lắng nghe những câu chuyện của con, tôi hoàn toàn yên tâm về những gì con mình quyết định làm", cô Hiền chia sẻ.

Ngày 27/2 tới, GS Ngô Bảo Châu sẽ về nước cùng một vị khách đặc biệt, đó là Hiệu trưởng ĐH Chicago- ông Robert J. Zimmer. Sự kiện này sẽ là một tín hiệu vui cho giáo dục ĐH Việt Nam, hy vọng sẽ có những hợp tác mới về giáo dục Mỹ- Việt. Dịp này, GS Ngô Bảo Châu sẽ xúc tiến những công việc cụ thể liên quan đến Viện nghiên cứu cao cấp về Toán.
2011 cũng là năm Quỹ học bổng dự kiến mang tên Trí tuệ Việt Nam đi vào hoạt động, sẽ cấp những học bổng đầu tiên cho HS, SV nghèo, giỏi cũng như các nghiên cứu sinh tại Việt Nam. 
Ngoài mục đích khuyến học như ban đầu, quỹ đặc biệt quan tâm trao phần thưởng cho các nhà khoa học trẻ đang làm việc tại Việt Nam, tổ chức một cuộc thi sáng tạo và tổ chức định kỳ những buổi làm việc giữa các nhà khoa học với sinh viên và những người có mong muốn có thêm hiểu biết về các tiến bộ khoa học – kỹ thuật.
Cô Hiền cho biết, thành viên sáng lập của Quỹ học bổng chỉ có các công ty lớn và cá nhân GS Ngô Bảo Châu tham gia, không có "đại gia" nào đứng sau.

Hình ảnh về sự kiện GS Ngô Bảo Châu trên lịch do công ty Tinh Vân thiết kế
Trong lúc cô Hiền vo gạo nấu bữa cơm tối, tôi hỏi: “Mỗi lần về Việt Nam, anh Châu thích ăn món gì mẹ nấu?”. Cô Hiền cười nhẹ nhàng: Châu không thích những món gì quá phức tạp, cầu kỳ hay đi ăn nhà hàng. Châu thích canh cua khoai sọ, rau rút, thịt kho tàu, thích món ăn dân dã ở phố cổ Hà Nội. Có dịp thết đãi Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, thay vì chọn nhà hàng sang trọng vì sợ bị làm phiền, anh Châu đã nhờ mẹ nấu món canh cua với rau mùng tơi Ba Vì.
Cuộc trò chuyện cuối năm với cô Hiền tuy nhiều, nhưng lại không thể viết lên báo được, vì biết rằng, gia đình cô cũng như bao gia đình khác, cũng cần có những bí mật riêng để được hưởng cái yên tĩnh quý giá của cuộc sống.
Và có lẽ, lời chúc đầu năm chân thành nhất là chúc gia đình GS Ngô Bảo Châu năm 2011 sẽ có nhiều thời gian và không gian cho riêng mình hơn.
Theo Hương Giang, Việt Nam Nét

Monday, January 17, 2011

Một phụ huynh tên CHÂU (Bảo Ngô)

Một phụ huynh tên CHÂU - Trò chuyện cùng Giáo sư Ngô Bảo Châu về giáo dục trong gia đình. Phương Cẩm - Sa thực hiện dựa trên bài phỏng vấn của Blog5xu. Bài viết dưới đây dài hơn bản đăng trên Tiền Phong số Tết Tân Mão 2011. GS Ngô Bảo Châu post trong entry "Sinh con rồi mới sinh tôi".

Ngô Bảo Châu và con gái ở Madrid, TBN

Có một lần đang trao đổi về công việc, tôi có đề xuất một ý kiến hơi “vĩ mô”, anh Châu không phủ quyết đề xuất này của tôi mà chỉ góp ý nhẹ nhàng: “Mình chỉ nên làm thật tốt việc mà mình có thể làm được, mình không thể làm thay xã hội”.

Một lần khác, tôi đọc trên báo thấy nói về thời kỳ đầu ở Pháp của gia đình anh Châu, khó khăn lắm, có lúc còn phải nhờ ông bà ở Hà Nội chăm sóc các con. Tôi có hỏi anh Châu. Anh Châu cho biết lúc ở Pháp thời gian và nhiều thứ eo hẹp. Ngoài việc dành nhiều thời gian làm ở trường, thời gian rỗi nhiều khi lại dành bạn bè hoặc đồng nghiệp ở Việt Nam qua công tác. Có lúc cứ như lái taxi nghiệp dư, đưa đón bạn bè ra sân bay, đi lại ở Paris, kể cả lúc nửa đêm. Rồi năm nào cũng về Việt Nam dạy. Mọi việc tự làm hết, lúc ở Pháp còn tự đào một cái ao nhỏ để thả cá.
Có lần tôi hỏi anh Châu thế này: Anh thì học phổ thông ở Việt Nam, các cô bé nhà anh học ở Pháp và Mỹ. Anh lại bận làm khoa học, gia đình đi lại di chuyển nhiều. Anh có thấy việc chăm sóc dạy dỗ các con của chính anh có khác với ở Việt Nam không, hay là có khó hoặc dễ hơn không?

Tôi email câu hỏi cho anh Châu mà không kỳ vọng anh trả lời nhiều. Vì cuối năm, một người nổi tiếng như anh hẳn rất bận. Vả lại, chuyện nuôi dạy con cái vẫn là cái gì đó khá riêng tư của mỗi gia đình. Thế nhưng anh Châu không những trả lời nhiều mà còn trả lời rất “thật thà” nữa.

“Chuyện chăm lo cho trẻ con cũng khó ra phết đấy. Bản thân anh thì thấy có những lúc thất bại. Chán nhất là những cái mình làm sai trong việc chăm lo cho các con thì không sửa được nữa.

Không biết những vật lộn của anh trong việc giáo dục con cái có ích lợi cho ai không vì suy nghĩ ban đầu của anh hơi khác mọi người. Sau một thời gian vật lộn thì có vẻ giống mọi người hơn.

Về chuyện dạy con, anh nghiệm ra như thế này. Cái quan trọng nhất vẫn là dành thời gian cho trẻ con. Cái này anh đã không làm được với cô bé đầu, bây giờ thì đã muộn. Anh đang cố gắng làm tốt hơn với hai cô bé sau. Thứ hai là phải biết lắng nghe con trẻ nói, tôn trọng ý kiến của trẻ như ý kiến của người lớn. Thứ ba là mình vẫn phải làm bố, chứ không phải làm bạn của con.

Lúc đầu anh khá tin vào các ý tưởng, phương pháp về giáo dục. Càng ngày anh càng thấy mấy thứ đấy chỉ áp dụng được cho số lớn, không áp dụng được cho số nhỏ là mình và con cái của mình.

Cái chính vẫn là có thời gian cho con mình, biết lắng nghe và động viên con.
Cái sai lầm lớn nhất, mà bản thân anh cũng đã mắc phải, là nghĩ rằng cứ cái gì tốt cho mình, thì phải tốt cho con mình. Biêt chính xác cái gì tốt cho con mình khó ra phết.Tiềm năng của mỗi đứa trẻ rất khác nhau, để hiểu được mình cần nhiều thời gian. Cái khó nhất của người làm bố mẹ là nhận ra đâu là tiềm năng của con mình để giúp nó trở thành khả năng.

Tuy vậy có một số việc thì tốt trong mọi trường hợp. Chẳng hạn như mỗi ngày đọc cho trẻ, hoặc cùng đọc với trẻ một câu chuyện.

Nhiều người thích làm cách mạng giáo dục, cứ bắt thầy với trò là bạn, bố với con là bạn. Cái này thì cực kỳ sai lầm. Vì thực ra trò cần mình làm thầy nó, chứ không cần mình làm bạn. Con cần mình làm bố nó, chứ không cần làm bạn. Làm bạn có thể là vui hơn, nhưng trẻ con sẽ bị thiệt thòi.

Làm thầy, làm bố, theo anh, không đồng nghĩa với làm độc tài, mà là có ý thức một số ranh giới mà không thể để trẻ vượt qua vì nó có thể nguy hiểm cho thể xác hoặc cho sự phát triển của tâm hồn. Trẻ sẽ không giận nếu trong một số việc mình quyết định thay cho nó, mà có khi không giải thích được cặn kẽ. Chỉ có điều quyết định của mình phải nhất quán, không tùy tiện, nay thế này mai thế khác.

Có những chuyện không nên nói với trẻ con, điển hình là tiền. Trẻ con nhà anh chỉ hiểu sơ sơ là tiền dùng để mua các thứ đồ dùng và cần tiết kiệm tiền. Hoàn toàn không có khái niệm là phải đi làm để kiến tiền. Hôm nọ một cô bé nhà anh làm kiểm tra toán, có một bài không làm được vì không hiểu đầu bài. Về nhà anh mới hỏi: “Con không hiểu cái gì?”. Cô bé mới nói: “Con không biết salary là cái gì.”. Một cô bé khác nhà anh, được bố đưa ra công viên chơi. Anh hỏi cô bé thích chơi trò gì. Cô bé này nói trò gì cũng được, miễn là không tốn tiền. Cô này ky bo giống hệt bố. Biết tiết kiệm chính là cách tốt nhất để không bị lệ thuộc vào đồng tiền. Có thì tốt, không có thì thôi.

Anh cố gắng lắng nghe các con. Có lần một cô con gái nhà anh nói với bố như thế này: “Bố không quan tâm đến bọn con, bố chỉ quan tâm đến môn toán của bố”. Trẻ con có ưu điểm luôn nói thật. Câu đấy có tính cảnh tỉnh cho bố Châu ra phết. Câu mà con gái anh nói ra thì hơi oan cho bố Châu, nhưng anh nghĩ là đối với cô bé đầu, thì anh có khuyết điểm thật. Khi cô bé này còn nhỏ thì anh còn trẻ quá, đầu óc bị cuốn hút vào cái Bổ Đề. Bây giờ anh muốn chuyện trò với cô bé ấy nhiều hơn thì không còn nhiều cơ hội nữa.”

Tôi vẫn tò mò về ảnh hưởng của môi trường và xã hội đến việc giáo dục con cái, nên đến đây tôi lại chen vào hỏi thêm: “Anh có nói với em một lần: mình không thể làm thay xã hội được. Nhưng ở khía cạnh giáo dục con, đôi khi xã hội lại làm thay việc của bố mẹ. Xã hội hiểu theo nghĩa gần gũi. Có thể là cộng đồng, nhà trường, bạn bè của các con. Có thể chính là báo chí, truyền hình, … Anh thấy khía cạnh này có gì thuận hoặc nghịch với mong muốn của phụ huynh không? Nhất là khi bố mẹ bận việc mưu sinh, hoặc đơn giản là gia đình phải dịch chuyển quá nhiều.

“Anh cũng đồng ý với em về vai trò của xã hội, theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng, trong việc giáo dục của trẻ con. Bạn bè thân gặp nhau cũng là một dịp để trẻ con chơi với nhau, chơi với nhau để khỏi phải chơi với cái máy tính. Trẻ con luôn cần một mẫu hình để noi theo. Có bạn mình cũng dễ giải thích cho trẻ con hơn, bạn này làm như thế này là không hay, tại sao, bạn này làm như thế này là đúng, tại sao.

Xã hội phương tây cũng có nhiều cái buồn cười. Khi ở nước mình mọi người vẫn thường chỉ nghĩ nghĩa vụ chính của bố mẹ là kiếm đủ tiền cho con đi học, với mấy ông bà tây thì nghĩa vụ này bao hàm cả nhiều thứ hơn. Anh có mấy ông bạn già tâm sự rằng điểm lại hầu hết bạn bè của ông bà ấy là bố mẹ của bạn con. Có nghĩa là ngay hoạt động xã hội của người ta cũng hoàn toàn bị chi phối bởi trẻ con. Cái này thì anh thấy cũng hay, nhưng mà chịu, mình không theo được.

Mọi người hay nói đến chuyện học “làm người” với nghĩa nôm na là học cách ứng xử trong cuộc sống. Theo anh chính gia đình, và cái cộng đồng nho nhỏ những người thân phải đảm bảo vai trò dạy cho trẻ con cách ứng xử trong cuộc sống. Nhiều người muốn đẩy cái vai trò này sang cho nhà trường, nhưng nhà trường làm thế nào mà đảm nhiệm được vai trò đó. Về cơ bản, thây cô giáo chỉ có cái bảng đen và mấy quyển sách, nên nếu có dạy làm người thì chỉ có thể dạy làm người trên phương diện lý thuyết. Bố mẹ và những người thân có nhiều cơ hội hơn để dạy cho trẻ con cách ứng xử đúng trong xã hội, tất nhiên điều đó cũng có nghĩa là người làm bố làm mẹ phải biết gương mẫu rồi. Anh quen một bạn làm doanh nghiệp, cũng hay kêu ca nhà trường không dạy được cho con bạn ấy cách sống, vừa kêu ca vừa đồng thời tiện tay vứt rác qua cửa xe hơi.

Nếu nhà trường đảm nhiệm tốt nhiệm vụ cơ bản của nó là dạy chữ là chúng ta đã nên mừng rồi.

Ngày xưa, ông ngoại anh có tham gia Hướng đạo sinh. Giai đoạn hướng đạo sinh đã để lại một dấu ấn không phai nhạt trong tính cách của ông. Ở trường mấy đứa con anh học, có chương trình phục vụ cộng đồng. Mỗi tuần cô bé lớn phải đến một cơ sở để chuản bị đồ ăn và bưng bê phục vụ những người nghèo nhất trong xã hội. Tuy là anh cũng hơi lo khi con phải đến một khu vực hơi kém về an ninh, nhưng anh thấy là nó học được rất nhiều trong việc đi phục vụ người khác. Ở nước mình bây giờ, hình như Đoàn thanh niên có độc quyền trong những hoạt động xã hội như vậy. Độc quyền cũng không làm sao nếu Đoàn thanh niên thực hiện tốt được nhiệm vụ xã hội đó.”

Các hoạt động kiểu hướng đạo đã quay trở lại thành phố Hồ Chí Minh rồi anh ạ, nhưng có vẻ như chính quyền thành phố không khuyến khích lắm. Mặc dù vậy, các hoạt động này thu hút được rất đông trẻ em. Ở công viên Tao Đàn chẳng hạn, cuối tuần đông nghịt các nhóm sinh hoạt kiểu hướng đạo. Em nghĩ hướng đạo không chỉ giúp trẻ em tham gia hoạt động xã hội, hiểu xã hội từ những góc khác, mà còn giúp các em có các kỹ năng để sống (và sau này làm việc) hiệu quả hơn. Anh chắc chắn là chưa tham gia các hoạt động hướng đạo bao giờ rồi. Vậy khi các cô bé nhà anh tham gia hoạt động cộng đồng trở về, anh có học được gì từ cô bé ấy không?

Phong trào hướng đạo đã đóng một vai trò không nhỏ trong lịch sử đấu tranh giành độc lâp. Những con người xuất sắc như Hoàng Đạo Thúy, Tạ Quang Bửu khởi điểm là những người anh cả của hướng đạo sinh. Rất nhiều người bình thường khác, chẳng hạn như ông ngoại anh, sau khi làm hướng đạo, đã đi kháng chiến. Anh không rõ là thái độ của chính quyền thành phố với phong trào hướng đạo như thế nào nhưng đặc điểm chung của những người sợ ma là nhìn đâu cũng thấy ma và thích kể chuyện ma.

Những hoạt động tập thể như đi cắm trại, đi bộ, đi xe đạp việt dã, tham gia hoạt động xã hội một cách có tổ chức, có lẽ là cách giáo dục tốt nhất về các kỹ năng sống cho các em. Tuổi vị thành niên là cái tuổi người ta bắt đầu có ý thức về bản thân mình, nên rất say sưa tìm hiểu cái bản thân mình. Vì thế mà khả năng giao tiếp xã hội có phần kém đi so với các em bé cấp một, cấp hai : đấy là cái tuổi nửa ông nửa thằng. Những ai không thích thì mình cũng không nên ép, nhưng anh nghĩ, phần đông các em thích các hoạt động tập thể nếu nó không đi kèm với quá nhiều tiết mục giáo điều. Hồi đi học cuối cấp hai, có lần anh với một cậu bạn, tổ chức cho lớp đi cắm trại chùa Hương. Vì chỉ đủ tiền để thuê xe bus, không có tiền để đi đò, lúc lên đến nơi phải nhờ mấy đứa trẻ con thổ dân dẫn đi lội ruộng trước thăm chùa sau.

Anh thấy trẻ con có khả năng thích ứng nhanh thật. Ở chỗ phục vụ cộng đồng, cô bé lớn nhà anh vừa bưng đồ ăn cho mấy ông bà tây đen to béo, lại còn vừa cười đùa vui vẻ. Anh rất muốn học được cái khả năng đó từ cô bé lớn, nhưng khó quá. Mình quen là nói gì cũng phải nghĩ rồi, nên nhiều lúc cần nói dăm ba chuyện vui vẻ cho những người xung quanh ấm lòng thì không làm được một cách tự nhiên nữa.

Theo như anh nói thì có vẻ như anh đã mất bớt thiện cảm với các phương pháp giáo dục, cụ thể ở đây là phương pháp giáo dục con cái. Em nghĩ giáo dục thì chỉ nên có triết lý, và triết lý này cũng chỉ nên ẩn đằng sau, thay vì có phương pháp cụ thể. Một số nguyên tắc kinh nghiệm mà anh đề cập ở trên, có thể hiểu như là triết lý ẩn đằng sau “sự nghiệp” giáo dục con cái của riêng anh. Nhưng ở phần đào tạo, em nghĩ là cần phương pháp chứ nhỉ? Khi anh kèm một cô bé nhà anh học bài hoặc học làm một việc gì đó, hẳn anh phải có một phương pháp cụ thể, dù rằng phương pháp này rất linh hoạt. Cũng như anh lên giảng đường, truyền tải một bài học đến sinh viên, hẳn anh cũng có một phương pháp để đào tạo học trò của anh giỏi như thầy. Nếu có những phương pháp như vậy, anh kết nối các nguyên tắc (triết lý) giáo dục của anh vào phương pháp thế nào để nhuần nhuyễn?

Anh rất mê tín phương pháp. Học cái gì cũng phải có phương pháp, chứ không thể học kiểu lãng tử được. Chẳng hạn như Cẩm-Sa viết văn giỏi rồi thì không cần nhớ cấu trúc mở bài, thân bài, kết luận nữa. Nhưng trẻ con thì cần phài được gò vào cái khuôn đó. Sau đó thì mới có như cầu nổi loạn, phá cách. Trước hết phải có cách thì mới có cái mà phá, chứ ngày từ đầu mà đã hỗn mang thì mức độ sáng tạo sẽ rất vừa phải.

Trước khi vẽ người thành khối vuông, ông Picasso đã hình họa rất đúng tỉ lệ. Nhiều người bây giờ cứ tương là tự do sáng tạo là vẽ lung tung, muốn vẽ gì thì vẽ. Anh Trần Trọng Vũ nói với anh là nhiều người bây giờ học Beaux-arts mà vẽ không đúng tỉ lệ.

Phương pháp viết văn là cái riêng của Cẩm-Sa. Phương pháp hội họa là cái riêng của hội sỹ. Toán, lý cũng như thế. Anh cảm thấy lo ngại với các triết lý giáo dục khi người ta muốn lấy nó làm tiền đề mà từ đó suy ra các phương pháp. Theo ý kiến riêng của anh, các triết lý chung chỉ nên dừng ở mức là bảo mình không nên làm gì, chứ không nên bảo mình phải làm gì và phải làm như thế nào.

Em thấy đề tài này còn có nhiều góc khác để thảo luận thêm. Nhưng em xin tạm dừng ở đây vì năm cũ đã sắp hết, anh cần thời gian để làm việc nhà nữa. Chúc anh và gia đình một mùa Giáng Sinh an lành và một Năm mới nhiều niềm vui và may mắn.

Monday, December 27, 2010

Ngô Bảo Châu được mời làm Giám đốc khoa học Viện Toán cao cấp

Thủ tướng Chính phủ vừa chính thức phê chuẩn quyết định thành lập Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán (tên gọi này có lẽ chưa chính thức, giới truyền thông vẫn gọi là "Viện nghiên cứu Toán cao cấp" hay đơn giản là "Viện Toán cao cấp"). GS Ngô Bảo Châu được mời làm Giám đốc khoa học của viện này.
Ngo Bao Chau, Giam doc khoa hoc, vien Toan cao cap
Giáo sư Ngô Bảo Châu & các đồng nghiệp ở Viên Toán học Việt Nam
Viện Toán cao cấp sẽ có trụ sở ở Hà Nội và hoạt động theo cơ chế đặc thù.

Mục tiêu của Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán là trở thành một trung tâm toán học xuất sắc, có môi trường làm việc tương đương với một số nước phát triển về Toán, để trao đổi học thuật nhằm nâng cao năng lực khoa học của các nhà nghiên cứu, giảng dạy và ứng dụng toán học Việt Nam...giai đoạn 2010-2020.

Thủ tướng đã giao trách nhiệm cho Bộ GD-ĐT phối hợp với Bộ Tài chính hướng dẫn và phê duyệt cơ chế tài chính đặc thù bảo đảm cho Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán hoạt động có hiệu quả. UBND TP Hà Nội bố trí địa điểm và giao đất để xây dựng trụ sở làm việc của Viện.

Viện có Ban Giám đốc, Văn phòng và 1 số phòng chức năng với biên chế từ 15 - 20 người. Ngoài ra Viện có Hội đồng Khoa học và các nhóm nghiên cứu.

Giám đốc khoa học là người đứng đầu viện, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về toàn bộ hoạt động nghiên cứu khoa học và hỗ trợ đào tạo nhân tài của viện; làm việc toàn bộ thời gian hoặc kiêm nhiệm tại viện.

GS Ngô Việt Trung Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam cho biết, đặc thù của GĐ phụ trách về khoa học không cần có mặt thường xuyên nên GS Ngô Bảo Châu sẽ được mời đảm đương vị trí này.

Hội đồng Khoa học của viện gồm các nhà toán học Việt Nam hàng đầu trong và ngoài nước gồm từ 9 -15 thành viên, nhiệm kỳ 3 năm.

Hội đồng Khoa học có nhiệm vụ tư vấn cho Ban GĐ viện về: Định hướng nghiên cứu và đào tạo, thành lập và tổ chức các nhóm nghiên cứu, quy chế trao tài trợ, học bổng, mời các nhà khoa học đến làm việc, đánh giá về hiệu quả hoạt động của Viện. Hội đồng khoa học còn có vai trò giúp Bộ trưởng Bộ GD-ĐT giám sát các hoạt động của viện.

Ban GĐ có thể trực tiếp mời những nhà khoa học có trình độ cao trong và ngoài nước đến trao đổi hoặc cộng tác với một nhóm nghiên cứu trong một thời gian nhất định, đến giảng bài hoặc đọc báo cáo khoa học.

Ngân sách nhà nước đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên hàng năm trong giai đoạn 2011-2020. Trên cơ sở kế hoạch dự toán chi thường xuyên ngân sách cấp cho viện được duyệt năm 2011, dự toán chi thường xuyên các năm kế tiếp trong giai đoạn 2011 - 2015 được tính tăng thêm 30% mỗi năm. Giai đoạn 2016-2020, ngân sách cấp cho viện được tính tăng thêm 25% mỗi năm...

Viện được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính. Viện có chức năng tạo môi trường học thuật đặc biệt cho các nhà khoa học, các giảng viên ĐH thực hiện những ý tưởng, đề tài nghiên cứu toán học xuất sắc, có ý nghĩa khoa học, ứng dụng cao và hỗ trợ đào tạo nhân tài.
tuyensinhvnn.com (Theo K.Oanh, VNN)