Wednesday, September 29, 2010

20 video luyện thi đại học của thầy Phan Huy Khải

20 video luyện thi đại học của thầy Phan Huy Khải là hệ thống bài giảng được ghi hình trực tiếp từ khóa Luyện thi VIP Đại học năm 2010 của thầy giáo Toán nổi tiếng này. Được tổng hợp và upload bởi Đức Tâm.
Nội dung bao gồm:
- Hệ thống bài giảng được biên soạn theo nội dung cấu trúc đề thi tuyển sinh tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2011.
- Hệ thống bài tập về nhà và lời giải chi tiết của từng dạng bài trong mỗi chuyên đề.
- Hệ thống bài kiểm tra định kì và hướng dẫn giải sau mỗi chuyên đề đã được Cục Khảo thí kiểm định.
Chi tiết 20 bài giảng (chuyên đề bằng video) gồm có:
Bài giảng số 1. Thể tích khối đa diện
Bài giảng số 2. Quan hệ vuông góc trong không gian
Bài giảng số 3. Tọa độ trong không gian
...

Tuesday, September 28, 2010

Top 10 trường Đại học tốt nhất châu Á

Trong bảng xếp hạng 10 trường đại học tốt nhất châu Á mới công bố tuần trước, đứng đầu là Đại học Hong Kong.
Tạp chí Times Higher Education (THE) hôm 16/9 vừa qua đã đưa ra danh sách 200 trường đại học có chất lượng hàng đầu thế giới. Các trường được đánh giá dựa vào năng lực giảng dạy và nghiên cứu, sự hợp tác quốc tế của giáo viên và sinh viên các trường đại học và khả năng của mỗi trường đại học trong việc chuyển những kết quả nghiên cứu thành lợi ích thương mại. Các vấn đề danh tiếng và di sản ít được xem trọng hơn mà nhấn mạnh vào nghiên cứu, giảng dạy và chuyển giao tri thức.
Thang điểm đánh giá cho các trường là 100 điểm.
Các trường đại học Mỹ vẫn thống trị các vị trí hàng đầu bảng xếp hạng của thế giới, với đại học Harvard đứng thứ nhất. Đại học Oxford và Cambridge của Anh cùng xếp thứ 6.
Ở châu Á, các nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc đều có những trường được đánh giá cao. Sau đây là 10 trường đại học hàng đầu châu Á theo xếp hạng của tạp chí THE:
Đại học Hong Kong, đạt 79,2 điểm:
Hiện nay đại học Hong Kong có 21.652 sinh viên, trong đó gần một nửa là học viên sau đại học và một phần tư sinh viên đến từ Trung Quốc đại lục và nước ngoài. Ảnh: Forbes.

Đại học Tokyo, đạt 75,6 điểm:
15 thủ tướng Nhật từng học ở trường đại học này. Trường được thành lập năm 1877 dưới thời Minh Trị với chính sách mở cửa. Hiện nay có 28.697 sinh viên thuộc 12 khoa và 12 viện đào tạo sau đại học. Trong trường có 11 viện nghiên cứu các hiện tượng như tia vũ trụ và động đất. Ảnh: Forbes.

Đại học Khoa học và Công nghệ Pohang, Hàn Quốc, đạt 75,1 điểm:
Hiện nay, trường có gần 3.100 sinh viên và 355 nhân viên, giáo vụ. Trường cũng tự hào có viện công nghệ robot thông minh. Ảnh: Forbes.

Đại học Tổng hợp Singapore (NUS), đạt 72,9 điểm:
Trường được thành lập năm 1905 từ một trường cao đẳng y tế. Ngày nay, NUS có 14 khoa. Trường có ba địa điểm ở Singapore, cung cấp chương trình giảng dạy mở rộng và các khóa học đa ngành. Ảnh: Forbes.

Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc, đạt 70,7 điểm:
Đại học Bắc Kinh được thành lập năm 1898, được coi là trường đại học dành cho triều đình. Trường mang tên như hiện nay từ năm 1912 và sáp nhập với đại học Y Bắc Kinh năm 2000. Trường có hơn 30.000 sinh viên với 2.900 học giả. Ảnh: Forbes.

Đại học Khoa học và Công nghệ Hong Kong, đạt 69 điểm:
Trường được thành lập năm 1991. Hiện có 9.500 sinh viên theo học ở 5 trường cao đẳng: khoa học, kỹ thuật, quản lý và kinh doanh, nhân văn và khoa học xã hội và một viện đào tạo sau đại học. Ảnh: Forbes.
Đại học Khoa học và công nghệ Trung Quốc, đạt 66 điểm:
Trường hiện có 16.588 sinh viên với 3.600 giảng viên, gồm 22 viện sĩ và 432 giáo sư, 134 giáo sư thỉnh giảng. Ảnh: Forbes.

Đại học Kyoto, Nhật Bản, đạt 64,6 điểm:
Hideki Yukawa, người Nhật Bản đầu tiên đoạt giải Nobel về vật lý năm 1949 từng theo học trường này. Hiện trường có ba cơ sở với 27.700 sinh viên với 2.864 giảng viên. Ảnh: Forbes.

Đại học Thanh Hoa, Trung Quốc, đạt 64,2 điểm:
Trường được thành lập năm 1911. Có 36 giáo sư của trường là thành viên Viện hàn lâm khoa học Trung Quốc và 32 giáo sư thuộc Học viện Kỹ thuật. Trường có 28.000 sinh viên, trong đó có 2.400 là sinh viên nước ngoài. Ảnh: Tsinghua.edu.cn.

Viện khoa học và công nghệ tiên tiến Hàn Quốc (KAIST), đạt 59, 5 điểm:
KAIST được thành lập năm 1971. Năm 2009, KAIST sáp nhập với trường đại học Thông tin và truyền thông. Ngày nay, KAIST có hơn 8.200 sinh viên và 567 học giả. Ảnh: KAIST. edu.
VnExpress

Sunday, September 12, 2010

Xác suất: Từ tù chung thân đến vô tội

Xác suất: Từ tù chung thân đến vô tộiCon số thống kê có thể kết tội và bỏ tù một người, bất kể người đó thuộc thành phần xã hội nào.  Trong những phiên tòa mà chứng cứ bằng hiện vật không đầy đủ, các công tố viên có khi sử dụng con số xác suất để như là một chứng cứ để tác động đến bồi thẩm đoàn rằng khả năng bị báo vô tội là rất thấp.  Một khi công tố viên “chứng minh” khả năng vô tội quá thấp, thì việc kết tội bị cáo quá dễ dàng.  Nhưng trong thực tế, rất ít công tố viên và bồi thẩm đoàn am hiểu xác suất, hoặc hiểu nhưng diễn giải sai.  Ngay cả các chuyên gia làm chứng (expert witness) cũng có khi tính toán sai.  Vì những sai lầm sơ đẳng về cách hiểu và tính toán, nhiều người vô tội đã bị kết án, và đôi khi hệ quả rất bi thảm cho người bị kết án sai.

Trường hợp Sally Clark
Một trong những kết cục bi thảm do hiểu sai thống kê và kết án sai là trường hợp của bà Sally Clark. Bà là một luật sư, xuất thân từ một gia đình trung lưu ở Anh.  Bà hạ sinh hai người con trai, nhưng cả hai đều chết một cách đột ngột sau khi sinh.  Đứa con đầu lòng chết lúc 11 tuần tuổi (1996).  Đứa con thứ hai chết lúc 8 tuần sau khi sinh (1997).  Cả hai đều không rõ nguyên nhân.  Trong y văn, những trường hợp này được gọi là “hội chứng đột tử” (SIDS – sudden infant death syndrome).  Ngay sau khi người con trai thứ hai chết, bà Clark bị cảnh sát bắt, hầu tòa, và bị kết tội giết con, bởi vì theo một chuyên gia y khoa, xác suất mà hai người con chết một cách ngẫu nhiên trong một gia đình trung lưu như thế là chỉ 1 trên 73 triệu.  Nói cách khác, theo chuyên gia này, xác suất hai trẻ chết trong gia đình không do yếu tố ngẫu nhiên là rất cao (hàm ý cố sát) và do đó ông đã thuyết phục bồi thẩm đoàn kết án bà Clark.
Con số xác suất (1/73 triệu) nổi tiếng đó là “tác phẩm” của ông Roy Meadow, người làm nhân chứng chuyên gia trong phiên tòa kết tội Sally Clark.  Ông Roy Meadow là một giáo sư nhi khoa, một chuyên gia có nhiều công trình nghiên cứu về hội chứng đột tử, và cũng chính là cha đẻ của hội chứng “Munchausen syndrome by proxy” (có nghĩa là hội chứng tâm lí mà cha mẹ có ý gây tổn thương cho con cái để được chú ý).  Ông còn là một người đấu tranh chống lạm dụng trẻ em, và là tác giả của cuốn sách “The ABC of Child Abuse”.  Do đó, “bằng chứng” của ông mang tính thuyết phục khá cao đối với bồi thẩm đoàn.

sally clark Xác suất: Từ tù chung thân đến vô tội
Bà Sally Clark

Cho đến nay, nguyên nhân của đột tử vẫn chưa rõ ràng, nhưng yếu tố môi trường và di truyền được xem là quan trọng.  Giới y tế biết được 3 yếu tố nguy cơ có thể làm tăng nguy cơ đột tử: (i) mẹ dưới 27 tuổi; (ii) có người hút thuốc lá trong nhà; và (iii) gia đình thuộc diện nghèo khó.  Nếu gia đình không có bất cứ yếu tố nguy cơ nào thì xác suất đột tử là 1 trên 8543; gia đình có một yếu tố nguy cơ thì xác suất tăng lên 1/1616; 2 yếu tố nguy cơ: 1/596; và 3 yếu tố nguy cơ thì xác suất đột tử là 1/214.
Gia đình của Sally Clark không có yếu tố nguy cơ nào.  Do đó, Giáo sư Meadow lí giải rằng xác suất đột tử trong một gia đình trung lưu như Clark là khoảng 1 trên 8543.  Ông lí giải tiếp rằng nếu 2 trẻ cùng chết trong một gia đình thì xác suất là 1/8543 x 1/8543 và kết quả là khoảng 1 trên 73 triệu.  Nói cách khác, ông cho rằng xác suất mà Sally Clark có tội là 1 trừ cho 1/73.000.000 = 0.99999999999 (tức bằng 1 hay 100%).  Khi tòa án hỏi gợi ý tư vấn một chuyên gia về thống kê, thì cả công tố viên và Giáo sư Meadow đều nói rằng đây không phải là “rocket science” (ý nói vấn đề đơn giản) nên không cần đến chuyên gia thống kê.  Họ tự tin rằng họ thành thạo về thống kê và xác suất.  Toà án kết án bà Sally Clark phạm tội giết người, và phạt tù chung thân.
Khi sự việc được báo chí tường thuật, các nhà thống kê học bắt đầu chú ý, và họ chỉ ra hai sai lầm cực kì sơ đẳng nhưng rất tai hại trong lí giải của Gs Meadow.  Sai lầm thứ nhất liên quan đến giả định đằng sau cách tính, và sai lầm thứ hai là sự nhầm lẫn về ý nghĩa của xác suất.
Sai lầm thứ nhất là ông giả định rằng xác suất 2 trẻ em chết trong một gia đình độc lập với nhau (nên nhân 2 xác suất với nhau).  Giả định này sai, vì đột tử có thể có nguyên nhân từ môi trường và di truyền, mà hai em là anh em, tức có thể có cùng gen và cùng mẹ (cùng môi trường) nên 2 hiện tượng không thể độc lập.  Thật ra, nếu 1 trẻ bị đột tử thì xác suất trẻ thứ 2 chết bị đột tử rất cao.  Theo phân tích của Giáo sư Ray Hill (một chuyên gia về thống kê), nếu gia đình đã có một bé đột tử, thì xác suất đột tử của bé thứ hai tăng 10 đến 22 lần.  Nói tóm lại, cách tính của Giáo sư Meadow (nhân 2 xác suất) là hoàn toàn sai lầm.
Sai lầm thứ hai là giáo sư Meadow lẫn lộn giữa xác suất bà Sally Clark giết con với xác suất trùng hợp về đột tử.  Xác suất mà Gs Meadow tính toán là xác suất trùng hợp, tức là xác suất mà hai ca độ tử xảy ra một cách ngẫu nhiên.  Nhưng câu trả lời mà người ta cần biết là với dữ liệu nghiên cứu có được, xác suất mà bà Clark sát hại con là bao nhiêu.  Tiến sĩ Helen Joyce thì áp dụng Định lí Bayes với kết quả cho thấy xác suất đứa trẻ thứ 2 tử vong vì “nguyên nhân tự nhiên” (không phải cố sát) là 62.5%.
Ngày 29/1/2003, sau khi luật sư bà Sally Clark kháng án, với nhân chứng mới từ một giáo sư thống kê học, tòa án tuyên bố Sally Clark vô tội.  Tòa án cũng khiển trách Gs Meadow vì đưa bằng chứng sai.  Hội đồng y khoa Anh kỉ luật giáo sư Meadow, tước chức danh, và cấm hành nghề thầy thuốc.  Tuy nhiên, sau này, ông kháng án, và được cho hành nghề thầy thuốc, nhưng uy tín thì bị tổn hại nghiêm trọng.  Phần bà Sally Clark, sau khi trả tự do vài năm, bà qua đời vào tháng 3 năm 2007, thọ 42 tuổi.
Trường hợp Lucia de Berk
Một trường hợp diễn giải sai lầm ý nghĩa của xác suất cũng dẫn đến án tù cho một y tá ở Hà Lan.  Tháng 3/2003, Lucia de Berk bị cảnh sát Hà Lan truy tố ra tòa vì tội giết người và tội cố sát.  Thoạt đầu, chứng cứ trình bày trước tòa có vẻ thuyết phục.  Cảnh sát điều tra cho biết có 7 bệnh nhân trong bệnh viện Juliana đột ngột tử vong trong thời gian bà de Berk làm việc (1999-2001), và những trường hợp tử vong này xảy ra hoặc là gần, hoặc là ngay tại khu điều trị de Berk phục vụ.  Ngoài ra, de Berk tại hiện trường trong hầu hết những trường hợp tử vong xảy ra.  Tuy nhiên, ngoài bối cảnh câu chuyện, không có thêm chứng cứ bằng hiện vật nào chứng minh de Berk có liên can đến các trường hợp tử vong.  Ngay cả khi bốc mộ để phân tích DNA, người ta cũng không thấy dấu vết nào liên quan đến de Berk.  Tuy nhiên, dựa vào tính toán của luật sư và nhà thống kê tài tử, tòa tuyên kết án de Berk tôi giết người và cố sát, với án phạt tù chung thân.
Henk Elffers là một giáo sư luật và cũng là một nhà thống kê học tài tử.  Ông tính toán rằng xác suất mà de Berk hiện diện một cách ngẫu nhiên trong các trường hợp tử vong như thế là 1 trên 342 triệu.  Kết quả này thật ra là một tích số của hai trị số P mà ông tính từ một phương pháp kiểm định thống kê Fisher (còn gọi là Fisher’s test, lấy tên của Ronald Fisher, một “cha đẻ” của thống kê học hiện đại và một chuyên gia di truyền học nổi tiếng người Anh).  Dựa vào “chứng cứ” này, tòa án Hà Lan kết tội de Berk là giết người và cố sát, và phạt tù chung thân.  De Berk bị dư luận công chúng và báo chí cho là một người giết người hàng loạt (serial killer). Riêng de Berk trước sau vẫn duy trì rằng bà bị oan.
Nhưng nhà toán học Richard Gill cho rằng tòa án đã phạm phải sai lầm nghiêm trọng.  Con số 1/342 triệu là hoàn toàn sai, và chẳng liên quan gì đến trường hợp của de Berk.  Vì dữ liệu tính toán Elffers thu thập là từ khu điều trị của bệnh viện mà de Berk phục vụ, chứ không thu thập thêm dữ liệu ở các bệnh viện khác để so sánh.  Thêm vào đó, cách tính của Giáo sư Elffers là chẳng những cực kì vô lí, mà còn … hài hước; không một ai học thống kê mà nhân hai trị số P và đi đến một kết luận.  Cách tính của Elffers cho thấy ông ta chẳng biết gì về thống kê và xác suất.  Qua phân tích lại dữ liệu, Giáo sư Gill ước tính rằng “xác suất tình cờ” (trong trường hợp của de Berk xuất hiện tại hiện trường) là 1/48, thậm chí 1/5, chứ nhất định không thể nào 1 trên 342 triệu.
Lucia de Berk tù chung thân đến vô tội
Lucia de Berk
Một sự kiện quan trọng khác mà tòa án không xem xét đến là trước khi de Berk về làm việc tại bệnh viện Juliana, đã có 7 trường hợp đột ngột tử vong cũng ngay hoặc gần khu điều trị mà der Berk làm việc.  Trong thời gian de Berk làm việc (1999-2001) có thêm 7 ca tử vong.  Sau khi bị các chuyên gia chỉ ra những sai lầm trong cách tính, một ủy ban đặc nhiệm đã được tòa án thành lập để thẩm định lại bản án.  Các chuyên gia gồm các bác sĩ và các nhà thống kê học cũng vận động để kháng án cho de Berk.  Đến năm 2008, bà được tạm trả tự do trong khi điều tra tiếp.
Ngay 14/4/2010 vừa qua, một phiên tòa phúc thẩm đã xem xét lại bằng chứng và lí giải của các chuyên gia, tòa án bác bỏ bản án cũ, và tuyên bố bà de Berk vô tội.  Công tố viện Hà Lan phải xin lỗi de Berk.  Các luật sư của bà đang "bận rộn" đòi bồi thường cho thân chủ họ.
Học xác suất !
Hai lĩnh vực luật và thống kê có một số điểm tương đồng, nhưng cũng có điểm khác nhau quan trọng.  Cả hai chuyên môn đều liên quan đến việc thu thập dữ liệu hay bằng chứng, xác định ý nghĩa của dữ liệu, và đi đến kết luận dựa vào dữ liệu và logic.  Tuy cả hai nhà thống kê học và luật sư đều có nhiệm vụ cung cấp tư vấn cho khách hàng, nhưng nhà thống kê học trình bày thông tin một cách khách quan không thiên vị ai (theo nguyên tắc khoa học), còn luật sư còn có vai trò biện minh cho khách hàng của mình và do đó họ trình bày thông tin thiếu tính khách quan.  Trong khi giới luật sư và tòa án đòi hỏi một câu trả lời "có" hoặc "không", "đúng" hay "sai", thì giới khoa học như nhà thống kê học không bao giờ phát biểu khẳng định.  Đối với khoa học, phương pháp khoa học và thống kê chẳng chứng minh một giả thuyết nào cả; mà chỉ có dữ liệu có nhất quán với giả thuyết hay không mà thôi, và ngay cả kết luận nhất quán cũng kèm theo một số điều kiện và giả định.  Thật vậy, bất cứ kết luận hay câu trả lời nào của giới khoa học thống kê cũng đều kèm theo điều kiện và giả định.  Mà, trong thực tế, nhiều khi chúng ta không biết được giả định đúng hay sai.  Do đó, tuy hai ngành nghề đều thu thập bằng chứng, nhưng cách trình bày và diễn giải bằng chứng thì rất khác nhau.
Đối với khoa học thống kê, bất định là một qui luật hơn là một ngoại lệ, và đây chính là điểm mâu thuẫn với tòa án.  Trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào của xã hội, trong cái nhìn của khoa học đều có yếu tố bất định.  Mỗi quyết định của con người, dù là chánh án tối cao, đều có khả năng sai lầm.  Mỗi hành động dù được thực hiện với ý định tốt nhưng đều có khả năng gây tác hại.  Ngược lại, đối với tòa án, bất định là điều khó chấp nhận, bởi vì phán quyết của tòa án là xác định.  Chính vì do ảo tưởng xác định nên trong quá khứ tòa án và luật pháp đã phạm phải nhiều sai lầm, và sai lầm của họ dẫn đến nhiều tai họa cho nạn nhân, cho người vô tội.  Nnhân vô thập toàn.  Không ai có thể tránh sai lầm.  Vấn đề đặt ra không phải là tránh sai lầm (vì điều này không thể), mà là làm sao tối thiểu hóa sai lầm và sống với bất định một cách sáng suốt.
Tình trạng bất định được định lượng hóa bằng con số xác suất.  Do đó, sống một cách sáng suốt với bất định chính là tối thiểu hóa xác suất sai lầm.  Các phương pháp thống kê hiện đại giúp cho chúng ta hạn chế sai lầm đến mức thấp nhất về lâu về dài.  Để hạn chế sai lầm, chúng ta cần phải hiểu ý nghĩa của con số xác suất và nhất là giả định đằng sau cách tính.
Về ý nghĩa của xác suất, có hai cách hiểu cơ bản.  Cách hiểu thứ nhất là xác suất là một tần số về lâu về dài.  Nói xác suất sai lầm 1% có thể hiểu rằng trong 100 quyết định tương tự về lâu về dài sẽ có 1 quyết định sai.  Ở đây, cái mâu thuẫn cơ bản của việc ứng dụng xác suất trong luật pháp là xác suất là con số được ước tính từ một quần thể với tử số nhỏ hơn mẫu số, còn quyết định của tòa án thường cho một cá nhân.  Một cá nhân thì không có mẫu số.  Do đó, nhìn như thế để thấy cách hiểu về xác suất theo ý nghĩa tần số không có giá trị cho tòa án.
Cách hiểu thứ hai về xác suất là một thước đo về khả năng, về mức độ tin cậy, hay một thước đo về tình trạng kiến thức.  Nói xác suất ông Obama thắng cứ 90% có nghĩa là theo cảm nhận cá nhân rằng ông ấy có khả năng thắng cứ cao hơn là thất cử.  Trong thực tế, chúng ta chẳng bao giờ chứng minh được điều gì 100% (xác định); chúng ta chỉ có thể thu thập chứng cứ, dữ liệu để tăng khả năng phán quyết đúng càng cao càng tốt.  Nhưng như trường hợp của Lucia de Berk và Sally Clark  cho thấy, vấn đề không phải là dữ liệu, mà là phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu sao cho phù hợp với nguyên lí khoa học và logic.  Do đó, trong thế giới hiện đại (và luôn luôn bất định), công dân – kể cả các quan tòa và bồi thẩm đoán – chẳng những phải học chữ, mà còn phải học xác suất.
Theo Oan khiên vì xác suất - GS Nguyễn Văn Tuấn (Việt kiều ở Úc)

Ngô Bảo Châu sẽ đoạt ba giải "Nobel Toán học"?

Có lẽ ít người biết rằng, ngoài giải thưởng Fields danh giá, được ví với giải "Nobel Toán học", còn 2 giải thưởng khác trong lĩnh vực này cũng danh giá không kém: Đó là giải thưởng Wolf và giải thưởng Abel. 

Do không có giải Nobel cho các nhà Toán học nên bộ 3 giải Wolf Prize, Abel Prize và Fields Medal đều được xem là giải “Nobel Toán học”.


GS Ngô Bảo Châu trước "cú ăn ba" lịch sử?

GS Ngô Bảo Châu của Việt Nam sau khi chinh phục giải thưởng Fields , hoàn toàn có thể tiếp tục đạt được 2 giải thưởng còn lại trong năm 2010 này.

1. Giải Wolf cho Toán học

Wolf Prize là một bộ giải thưởng được trao bởi Quỹ Wolf (Wolf Foundation), bắt đầu từ năm 1978 cho các nhà khoa học và các nghệ sĩ. Giải Wolf hầu hết được trao hàng năm, hoặc đôi khi 2 năm một lần, dành cho 6 hạng mục: Nông nghiệp, Hóa học, Toán học, Y học, Vật lý và Nghệ thuật. Giải Wolf cho Nghệ thuật được xoay vòng giữa 4 lĩnh vực: kiến trúc, âm nhạc, hội họa và điêu khắc. Người được trao giải Wolf sẽ nhận được bằng chứng nhận và khoản tiền lên đến 100.000 USD.

Quỹ Wolf được thành lập từ năm 1976, với tổng ngân quỹ ban đầu là 10 triệu USD được tài trợ bởi gia đình Wolf. Người sáng lập quỹ này là Tiến sĩ Ricardo Wolf và vợ ông, bà Francisca.

Ricardo Wolf (1887-1981) có tên đầy đủ là Ricardo Subirana y Lobo Wolf. Ricardo Wolf sở hữu 3 quốc tịch Đức, Israel và Cuba. Ông sinh tại thành phố Hanover, Đức trong gia đình có 14 người con. Bố ông là Moritz Wolf, một lãnh tụ của cộng đồng Do Thái di cư sang Đức.

Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, Ricardo Wolf chuyển tới sinh sống ở Cuba, nơi trở thành quê hương thứ 2 của ông. Wolf là một nhà đầu tư và một nhà ngoại giao có tiếng. Năm 1924, ông kết hôn với nhà vô địch tennis những năm 1920 Francisca Subirana. Wolf là người ủng hộ Fidel Castro trong cuộc Cách mạng Cuba và sau đó được bổ nhiệm làm Đại sứ Cuba tại Israel từ năm 1961.

Các giải Wolf đều là những giải thưởng danh giá hàng đầu trong mỗi lĩnh vực xét giải. Giải Wolf trong Vật lý và Hóa học đều chỉ kém danh tiếng so với giải Nobel. Trong Y học, đó là giải thưởng uy tín thứ 3, sau giải Nobel và giải Lasker. Trong Nông nghiệp, nó được xem là giải “Nobel Nông nghiệp”.

Trong khi đó, ở lĩnh vực Toán học, giải Wolf và giải Fields đều được xem như giải “Nobel Toán học”, giải Fields uy tín hơn nhưng giải Wolf lại giống với giải Nobel hơn về mặt thể thức: Được trao hàng năm và không giới hạn tuổi của người chiến thắng.

Năm 2002, khi giải Abel ra đời thì giải Wolf, giải Fields và giải Abel được xem là bộ ba “Nobel Toán học”, trong đó mỗi giải có một ưu thế riêng trội hơn 2 giải còn lại.

Những nhà Toán học đầu tiên được trao giải Wolf là Israel Gelfand (Liên Xô) và Carl L. Siegel (Đức) vào năm 1978. Mỗi năm, Quỹ Wolf thường trao giải cho 2 người ở lĩnh vực Toán học (riêng năm 1994/5 chỉ có một mình Jürgen Moser được trao giải, năm 2008 có 3 người: Pierre Deligne, Phillip A. Griffiths và David B. Mumford). Trong một số năm, Quỹ Wolf không trao giải cho Toán học, gần đây là các năm 1998, 2004, 2009.

Dennis P. Sullivan và Shing-Tung Yau cùng nhận Wolf Toán học 2010.
Dennis P. Sullivan (trái) và Shing-Tung Yau cùng nhận Wolf Toán học 2010.

Đáng chú ý là có tới 12 nhà Toán học đoạt giải Wolf cũng từng nhận Huy chương Fields, giải thưởng mà GS Ngô Bảo Châu vừa nhận được tại Ấn Độ. 12 người đó là: Grigory Margulis (Nga), Sergei Novikov (Nga), Stephen Smale (Mỹ), Pierre Deligne (Bỉ), Jean-Pierre Serre (Pháp), Lars Hörmander (Thụy Điển), John Milnor (Mỹ), Kunihiko Kodaira (Nhật Bản), Atle Selberg (Na Uy), Lars Ahlfors (Phần Lan), Shing-Tung Yau (Mỹ, Trung Quốc), David Mumford (Anh).

2. Giải Abel

Giải Abel (Abel Prize) là giải thưởng thường niên được nhà vua Na Uy trao cho một hoặc một vài nhà Toán học. Tên gọi của giải thưởng này được đặt theo tên của nhà Toán học Na Uy Niels Henrik Abel (1802-1829) - một thiên tài bạc mệnh, người qua đời ở tuổi 27 vì bệnh lao.

Giải Abel được công bố vào năm 2001 và bắt đầu được trao từ năm 2003 để kỷ niệm 200 năm ngày sinh của thiên tài Abel. Mục đích của giải Abel khi ra đời là để khỏa lấp sự thiếu vắng của giải Nobel trong Toán học. Dù giải Fields trước đó đã được xem là tương đương với “Nobel Toán học”, nhưng chỉ được trao 4 năm một lần (giải Nobel được trao hàng năm) và với số tiền thưởng chỉ bằng 1% so với giải Nobel. Từ khi ra đời, giải Abel cũng được xem như giải “Nobel cho các nhà Toán học” (Mathematician’s Nobel).

Abel Prize cùng với Wolf Prize và Fields Medal hợp thành bộ ba giải thưởng danh giá nhất mà các nhà Toán học có thể đạt được. Giống như giải Nobel và giải Wolf, giải Abel không giới hạn độ tuổi của người đoạt giải. Ngoài ra, khoản tiền thưởng cho người nhận giải Abel cũng rất lớn, lên đến 6 triệu krone (tiền Na Uy). Ở thời điểm trao giải Abel năm 2010, khoản tiền này tương đương 740.000 euro hay 992.000 USD, không kém nhiều so với giải Nobel (khoảng 1,4 triệu USD).

Mục đích của giải Abel là để phổ biến Toán học và làm cho nhiều người yêu Toán học, đặc biệt là những người trẻ tuổi. Theo điều lệ, hàng năm Viện hàn lâm Khoa học và Ngôn ngữ Na Uy công bố chủ nhân giải Abel sau cuộc tuyển chọn do một hội đồng gồm 5 nhà Toán học quốc tế tiến hành. Người đứng đầu hội đồng từ năm 2006 là Kristian Seip - nhà Toán học Na Uy và là cựu Chủ tịch Viện hàn lâm Khoa học và Ngôn ngữ Na Uy. Ngân quỹ ban đầu để trao giải do chính phủ Na Uy cấp vào năm 2001 là 200 triệu krone (khoảng 23 triệu USD).

Lẽ ra, giải Abel phải được trao trước đó cả trăm năm. Năm 1897, nhà Toán học Na Uy Sophus Lie (1842-1899) là người đầu tiên đề xướng việc thành lập một giải thưởng tương đương với giải Nobel cho các nhà Toán học. Ở thời điểm đó, Na Uy và Thụy Điển vẫn còn nằm trong một liên bang và nhà vua Oscar II đã đồng ý tài trợ cho giải thưởng này. Năm 1902, ý tưởng thành lập giải thưởng mang tên Abel đã được đưa ra nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông. Thậm chí, các nhà Toán học Ludwig Sylow và Carl Størmer đã phác thảo những quy chế và luật lệ cho giải. Tuy nhiên sự tan rã của liên bang Thụy Điển - Na Uy năm 1905 đã kết thúc cố gắng đầu tiên để thành lập giải thưởng Abel.

Phải mất gần 100 năm sau, giải thưởng Abel mới chính thức ra đời vào tháng 5/2010. Tới tháng 8/2001, chính phủ Na Uy tuyên bố giải thưởng Abel đầu tiên sẽ được trao vào năm 2002 để kỷ niệm 200 năm ngày sinh Abel. Tới tháng 4/2003, nhà Toán học Pháp Jean-Pierre Serre được công bố là người đầu tiên nhận giải Abel.

Tính đến nay, sau 8 năm giải Abel được vận hành, đã có 10 nhà Toán học được trao giải, trong đó có 5 nhà Toán học Mỹ và 3 người Pháp.

Ngoài ra, Na Uy còn giới thiệu bộ sách giới thiệu về các nhà Toán học đoạt giải Abel và công trình của họ, được phát hành 5 năm một lần. Cuốn sách đầu tiên giới thiệu các nhà Toán học đoạt giải trong 5 năm đầu (2003-2007) xuất bản vào năm 2007.


2 nhà Toán học Jean-Pierre Serre và John G. Thompson là những người đã thống nhất cả 3 danh hiệu “Nobel Toán học”

Trong số 10 nhà Toán học đoạt giải Abel, đã có 3 người trước đó từng đoạt Huy chương Fields (Jean-Pierre Serre - 2003, Michael F. Atiyah - 2004, John G. Thompson - 2008) và 7 người từng nhận giải Wolf (Jean-Pierre Serre, Peter D. Lax, Lennart Carleson, John G. Thompson, Jacques Tits, Mikhail Gromov, John Tate).

Như vậy, cho đến hiện tại chỉ có 2 nhà Toán học Jean-Pierre Serre và John G. Thompson là những người đã thống nhất cả 3 danh hiệu “Nobel Toán học”. GS Ngô Bảo Châu của chúng ta sẽ là người thứ 3?

tuyensinhvnn.com (VTC/VNN)

Thursday, September 9, 2010

Tuyên dương thủ khoa Đại học năm 2010

Ngày 10/9, TƯ Hội Sinh viên Việt Nam, Bộ GD-ĐT đã họp báo về chương trình Tuyên dương thủ khoa Việt Nam năm 2010. Theo đó, có 39 Thủ khoa từ 29 điểm trở lên (chưa tính điểm ưu tiên) vinh dự được tuyên dương đợt này.

   >>  Tăng Văn Bình - thủ khoa duy nhất đạt điểm tuyệt đối 30/30

Theo lãnh đạo TƯ Hội Sinh viên Việt Nam (Hội SVVN), mục đích của chương trình là cổ vũ phong trào thi đua học tập, rèn luyện và phát triển tài năng trong học sinh, sinh viên. Phát hiện, bồi dưỡng và tuyên dương những học sinh, sinh viên vượt khó, học giỏi.
Trong số 39 học sinh được tuyên dương có 1 học sinh đạt 30/30 điểm, 8 học sinh đạt 29,5 điểm và 30 học sinh đạt 29 điểm.
Đối với thủ khoa đạt 30 điểm, Ban tổ chức chương trình sẽ tặng Bằng khen của Bộ GD-ĐT, của TƯ Hội SVVN, bằng chứng nhận Thủ khoa Việt Nam, biểu trưng Thủ khoa và 1 máy tính xách tay (trị giá 10 triệu đồng) và 5 triệu đồng tiền mặt.

Tuyên dương thủ khoa Đại học năm 2010
Tăng Văn Bình, Trường THPT Phan Bội Châu, Nghệ An đỗ thủ khoa kỳ thi tuyển sinh vào Trường đại học Ngoại thương số với điểm tuyệt đối 30/30
Đối với học sinh đạt 29,5 điểm, BTC tặng Bằng khen của TƯ Hội SVVN và 01 máy tính xách tay trị giá 10 triệu. Còn học sinh đạt 29 điểm, được nhận Bằng khen của TƯ Hội SVVN, phần thưởng 2 triệu đồng tiền mặt và 1 điện thoại di động.
Lễ Tuyên dương Thủ khoa năm 2010 sẽ được tổ chức vào 19h30 ngày 19/9/2010 tại Hà Nội và được truyền hình trực tiếp trên VTV6. Trước đó, từ ngày 18/9, các thủ khoa sẽ có các hoạt động như thăm tặng quà Trung thu cho trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS và trẻ em nghèo; dâng hương tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám và ký giao ước thi đua đạt Danh hiệu “Sinh viên 5 tốt” của các tân sinh viên đạt điểm cao nhất kỳ tuyển sinh ĐH 2010; Dự tọa đàm “Làm thế nào để học tốt ở bậc Đại học”…
Dân Trí

Đề thi cao học Toán ở Đại học Huế 2009 và 2010 có đáp án

1. Đề thi cao học Toán - Đại học Huế năm 2009 và đáp án: Download
2. Đề thi cao học Toán - Đại học Huế năm 2010 và đáp án: Download
Xem thêm:
- Đề thi Cao học Huế từ 1998-2007 và Cao học Vinh, Quy Nhơn, Viện Toán,...
- Tuyển tập tài liệu luyện thi Cao học môn Toán

Wednesday, September 8, 2010

Học sinh Việt Nam đoạt giải nhất cuộc thi viết thư quốc tế UPU 2010

Với bức thư gửi đạo diễn Trương Nghệ Mưu, Hồ Thị Hiếu Hiền (THCS Tây Sơn, Đà Nẵng) trở thành học sinh Việt Nam đầu tiên đoạt giải nhất cuộc thi viết thư quốc tế UPU 2010 (lần thứ 39). 

Chủ đề cuộc thi viết thư quốc tế UPU lần thứ 39 là: “Hãy viết thư cho một người nào đó, để nói vì sao việc hiểu biết về AIDS và tự bảo vệ mình trước căn bệnh này là rất quan trọng”.
Học sinh Việt Nam đoạt giải nhất cuộc thi viết thư quốc tế UPU 2010
Hồ Thị Hiếu Hiền là học sinh Việt Nam đầu tiên đạt giải nhất cuộc thi viết thư quốc tế UPU 2010.
Hiếu Hiền đã viết một bức thư gửi đạo diễn Trương Nghệ Mưu (một đạo diễn nổi tiếng người Trung Quốc) bày tỏ mong muốn ông hãy có những tác phẩm điện ảnh thật hay về chủ đề HIV/AIDS. Từ đó, mọi người hiểu rõ hơn về sự nguy hiểm của AIDS để có cách phòng tránh hiệu quả cũng như thức tỉnh những người còn thờ ơ với căn bệnh thế kỷ này.

Học sinh Việt Nam đoạt giải nhất cuộc thi viết thư quốc tế UPU 2010
Học sinh Việt Nam đoạt giải nhất cuộc thi viết thư quốc tế UPU 2010
Học sinh Việt Nam đoạt giải nhất cuộc thi viết thư quốc tế UPU 2010

Theo Sở Giáo dục đào tạo Đà Nẵng, Hiếu Hiền sẽ được mời sang nhận giải tại trụ sở chính của UPU tại Bern (Thụy Sỹ). Đồng thời, Ban tổ chức cấp quốc gia sẽ trao tặng phần thưởng trị giá 30 triệu đồng cùng bằng khen của Bộ Giáo dục cho em.
Sau 20 năm Việt Nam tham gia cuộc thi, Hiếu Hiền là học sinh đầu tiên giành được giải Nhất quốc tế. Trước đó, vào tháng 5 em đã được trao giải nhất UPU toàn quốc.
Cuộc thi viết thư quốc tế được UPU (Liên minh Bưu chính Thế giới) được tổ chức hàng năm nhằm góp phần phát triển khả năng viết văn và sự phong phú trong tư duy sáng tạo của các em thiếu nhi; tạo điều kiện thắt chặt tình hữu nghị giữa các dân tộc trong thế hệ trẻ, đồng thời giúp các em hiểu thêm về vai trò của ngành bưu chính trong cuộc sống và phát triển xã hội.
VnExpress