Sunday, October 31, 2010

Đề thi Đại học năm 2011 sẽ không có phần riêng

Lưu ý: Các thông tin trong bài viết này chỉ là dự thảo. Quyết định chính thức sẽ được Bộ Giáo dục - Đào tạo ban hành vào tháng 3/2011.
Bộ GD-ĐT vừa đưa ra nhiều nội dung dự kiến thay đổi để lấy ý kiến các trường Đại học, Cao đẳng và các chuyên gia tuyển sinh trước khi chính thức áp dụng cho kỳ tuyển sinh 2011. Theo đó dự kiến kỳ thi ĐH và CĐ năm 2011 sẽ chung đợt, chung đề (không tách riêng kì thi Cao đẳng). Dap an De thi dai hoc nam 2011 khoi A, B, C, D

Chung đề nhưng điểm sàn riêng
Cụ thể, theo dự kiến của Bộ GD-ĐT, so với năm 2010, chỉ tiêu tuyển sinh ĐH và CĐ của năm 2011 sẽ tăng từ 5%-7%, tuyển mới đào tạo thạc sĩ tăng 10%, tiến sĩ tăng 15%. Thay vì tổ chức thi riêng cho hệ CĐ thì năm 2011 sẽ tổ chức thi CĐ chung (chung đề, chung đợt) với hai đợt thi ĐH để tránh số lượng ảo khi thí sinh đăng ký dự thi cả ĐH và CĐ, giảm thiểu chi phí đi lại cho thí sinh cũng như đỡ tốn kém cho các trường trong khâu tổ chức.
  
Đề thi  Đại học năm 2011 sẽ không có phần riêng
Thí sinh làm thủ tục tuyển sinh ĐH, CĐ tại TPHCM năm 2010.

Lãnh đạo Bộ GD-ĐT cho biết nếu nhận được đồng thuận, kỳ thi ĐH và CĐ sẽ thi chung đợt và chung đề, tuy nhiên vẫn xác định điểm sàn riêng cho ĐH và CĐ. Một nội dung nữa là đề thi chỉ có phần chung chứ không có phần riêng, nội dung đề thi sẽ ra trong phần giao thoa kiến thức giữa chương trình chuẩn và chương trình nâng cao.

Bộ cũng dự kiến sẽ phát hành đồng thời những điều cần biết về tuyển sinh cả bản điện tử và bản giấy, bổ sung thêm cụm thi Sơn La và cụm thi Thái Nguyên, bỏ điều 33 của quy chế tuyển sinh hiện hành (về mức chênh lệch điểm trúng tuyển giữa các nhóm đối tượng ưu tiên và giữa khu vực kế tiếp...) bởi chất lượng đầu vào của các trường vận dụng thấp hơn so với các trường không được vận dụng.
Lưu học sinh nước ngoài 
được dự thi
Dự kiến năm 2011, các trường thuộc khối năng khiếu, nghệ thuật, thể dục thể thao (thi các khối H, M, T, R, S...) sẽ chịu trách nhiệm trong các khâu ra đề, tổ chức thi, coi thi, chấm thi, xét tuyển và triệu tập thí sinh trúng tuyển. Về đối tượng dự thi, Bộ GD-ĐT bổ sung đối tượng là lưu học sinh nước ngoài với điều kiện có đủ trình độ tiếng Việt để theo học, đạt yêu cầu kiểm tra kiến thức do hiệu trưởng các trường quy định...

Giảm quy mô hệ vừa làm vừa học

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận cho biết song song với việc tăng chỉ tiêu tuyển sinh hệ chính quy trong mùa tuyển sinh 2011, chủ trương của bộ là giảm dần quy mô đào tạo hệ vừa làm vừa học của các trường ĐH, đặc biệt là các trường ĐH tốp đầu; giảm dần chỉ tiêu đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, CĐ, mở rộng đào tạo sau ĐH.

Đối với việc tuyển sinh hệ vừa làm vừa học, Bộ GD-ĐT sẽ sửa đổi, bổ sung quy chế tuyển sinh theo hướng tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các trường ĐH trong tất cả các khâu liên quan. Bộ trưởng Phạm Vũ Luận cũng cho biết sẽ xây dựng quy chế tuyển sinh đặc thù, thực hiện chủ trương đào tạo theo nhu cầu của xã hội ở các khu công nghiệp tập trung, các vùng miền khó khăn.

Để nâng cao chất lượng đào tạo ĐH, CĐ, Bộ GD-ĐT sẽ tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát chặt chẽ chỉ tiêu tuyển sinh đối với những cơ sở giáo dục ĐH thành lập trước năm 2010 nhưng chưa xây dựng được cơ sở riêng tại địa điểm theo hồ sơ đăng ký thành lập; đôn đốc các trường thực hiện các cam kết trong đề án thành lập trường, cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo, chương trình, giáo trình.

Ngoài ra, Bộ GD-ĐT cũng sẽ tập trung thanh, kiểm tra việc thẩm định hồ sơ thành lập trường, việc thực hiện thu, chi trong các trường ĐH, CĐ, quy chế thực hiện công khai.
Theo NLĐ/DT

Dựng thập giác đều bằng thước thẳng và compa

Trong bài viết trước, tuyensinhvnn đã hướng dẫn cách dựng một ngũ giác đều. Bài viết này sẽ nêu các bước dựng một thập giác đều bằng thước thẳng và compa.
Dựng thập giác đều bằng thước thẳng và compa
Bước 1. Dựng ngũ giác đều ABCDE nội tiếp đường tròn (O) (Xem hướng dẫn chi tiết ở đây).
Bước 2. Lần lượt kẻ các đường thẳng đi qua mỗi đỉnh của ngũ giác đều ABCDE và tâm O của đường tròn. Các đường thẳng này cắt đường tròn lần lượt tại M, N, P, Q, R.
Bước 3. Nối AMBNCPDQER ta được một thập giác đều.
Dựng thập giác đều bằng thước thẳng và compa

Thursday, October 28, 2010

Các bước dựng ngũ giác đều bằng compa và thước thẳng

Bài viết này sẽ nêu các bước dựng NGŨ GIÁC ĐỀU bằng compa và thước thẳng. tuyensinhvnn tạm thời chia thành 5 bước như sau:

Bước 1. Dựng đường tròn tâm O và 2 đường kính vuông góc AR và PQ (Lấy đường kính PQ, sau đó dùng compa và thước thẳng để dựng đường trung trực của đoạn PQ. Đường thẳng này cắt (O) tại A và R).
Các bước dựng ngũ giác đều bằng compa và thước thẳng
Bước 2. Dựng trung điểm M của đoạn PO. Sau đó dựng đường tròn tâm M bán kính MA, cắt PQ tại N.
Các bước dựng ngũ giác đều bằng compa và thước thẳng
Bước 3. Dựng đường tròn tâm A, bán kinh AN. Đường tròn này cắt (O) tại 2 điểm B, E.
Các bước dựng ngũ giác đều bằng compa và thước thẳng
Bước 4. Dựng đường tròn tâm B, bán kính BA, cắt (O) tại điểm khác A là C. Dựng đường tròn tâm E, bán kinh EA, cắt (O) tại điểm khác A là D.
Các bước dựng ngũ giác đều bằng compa và thước thẳng
Bước 5. Nối ABCDE ta được một ngũ giác đều.
Các bước dựng ngũ giác đều bằng compa và thước thẳng
tuyensinhvnn.com

Monday, October 25, 2010

Chuyên đề Tạp chí Toán học và Tuổi trẻ

Chuyên đề Tạp chí Toán học và Tuổi trẻ - Tuyen tap cac chuyen de tu Tap chi Toan hoc va Tuoi tre.
Chuyên đề Tạp chí Toán học và Tuổi trẻ
1. Các chuyên đề Luyên thi Đại học từ Toán học và Tuổi trẻ: Download
2. Chuyên đề Lượng giác từ Tạp chí Toán học và Tuổi trẻ: Download
3. Các chuyên đề dành cho học sinh THCS từ TH&TT: Download
4. Các chuyên đề Đại số và Hình học từ Tạp chí Toán học và Tuổi trẻ: Download
Xem thêm :
+ Tuyển chọn theo chuyên đề TH&TT - Quyển 3
+ Tuyển tập 5 năm Tạp chí Toán học và Tuổi trẻ
+ Tạp chí Toán học và Tuổi trẻ tháng 10, 9, 8, 7 năm 2010 
+ Đề thi thử Đại học từ Tạp chí Toán học tuổi trẻ

Friday, October 22, 2010

Về bài "Bản đồ tư duy" trên tạp chí THTT số 400 (10-2010)

Tạp chí Toán học Tuổi trẻ số 400 có bài viết của Trần Đình Châu (Bộ GD-ĐT) và Đặng Thu Thủy (Viện khoa học Giáo dục Việt Nam) nhan đề: "Thiết kế bản đồ tư duy giúp học sinh tự học và tập dượt nghiên cứu Toán học".
Thứ nhất, thực ra trong bài viết đó, bản đồ tư duy chỉ giúp học sinh hệ thống và ghi nhớ kiến thức tốt hơn mà thôi, chẳng thấy "tập dượt nghiên cứu Toán học" ở đâu cả.
Thứ hai, các bản đồ tưu duy mà ông Châu và bà Thủy vẽ không đảm bảo nguyên tắc của một sơ đồ tư duy. Vì theo Tony Buzan: "Màu sắc mang đến cho bản đồ tư duy những rung động cộng hưởng, mang lại sức sống và năng lượng vô tận cho tư duy sáng tạo". Ấy thế mà các bản đồ trong tạp chí quá đơn điệu về màu sắc (Hình 2 chỉ có "một màu xanh xanh", Hình 3 thì độc đáo hơn với "một màu đen đen").
Thứ ba, với Hình 3 các tác giả còn vẽ bằng tay và viết những chữ nguệch ngoạc lên trên. Một tạp chí lớn như THTT mà cho in những hình vẽ xấu xí như vậy? (Đi xuống quá nhiều về hình thức trình bày).
Các bạn hãy xem qua 2 "bản đồ tưu duy" đã đăng trên THTT số 400 (tháng 10/2010)...
So do tu duy tony buzan
... và xem sơ đồ tư duy (ứng với Hình 2) mà tuyensinhvnn.com đã vẽ lại (click vào hình vẽ để xem ảnh ngang)
phan mem ve so do tu duy
Hình 3 cũng có thể thiết kế tương tự để trực quan sinh động hơn.

Thursday, October 21, 2010

Mô hình trường học sáng tạo của Microsoft

KHÁI NIỆM TRƯỜNG HỌC SÁNG TẠO

Trường học sáng tạo là một mô hình trường học do Microsoft đề xướng, nhằm thúc đẩy các quốc gia chưa cho điều kiện phát triển giáo dục có thêm mô hình để tham khảo trong quá trình xây dựng nhà trường tiên tiến và hiện đại.
Mo hinh truong hoc sang tao cua microsoft
Trường học sáng tạo theo mô hình của Microsoft đảm bảo sự kết hợp hài hòa của các thành phần chính trong và ngoài nhà trường. Mô hình Trường học sáng tạo thúc đẩy các thành phần trên kết hợp hài hòa tạo nên một khối thống nhất, hiệu quả trong việc thực hiện những yêu cầu của nhà trường trong thế kỷ 21:
  1. Đào tạo học sinh tương lai đáp ứng nhu cầu hội nhập toàn cầu, có hiểu biết và kỹ năng công nghệ tốt phục vụ học tập và công việc trong tương lai.
  2. Tạo điều kiện để giáo viên đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, quan hệ giao tiếp tốt với cộng đồng giáo viên trong và ngoài nước, cũng như với học sinh và phụ huynh.
  3. Tạo môi trường quan hệ giao tiếp tốt với phụ huynh, học sinh và xã hội trên căn bản tận dụng phương tiện CNTT và truyền thông để nâng cao hiệu quả và tiết kiệm thời gian.
  4. Công khai mọi thông tin về các hoạt động của trường cho xã hội thông qua website của trường để xã hội biết, hiểu và đồng thuận với các chủ trương của nhà trường.
TIÊU CHÍ CỦA TRƯỜNG HỌC SÁNG TẠO

1. Ban lãnh đạo nhà trường:
a. Sự thay đổi về tư duy và đổi mới giáo dục
  • Khuyến khích, tạo điều kiện và duy trì các giờ học có sự ứng dụng CNTT.
  • Tổ chức các buổi đào tạo cho giáo viên trong trường về phương pháp giảng dạy mới
  • Nhân rộng mô hình Hướng dẫn đồng nghiệp trong cộng đồng nhà trường.
  • Đưa vào áp dụng một số giáo trình mới để nâng cao hiệu quả học tập của học sinh (VD: Live@edu)
b. Tăng cường giao lưu và chia sẻ với cộng đồng
  • Tích cực tham gia Innovative Schools Network.
  • Xây dựng hệ thống thông tin và quản lý trong nhà trường nhằm nâng cao hiệu quả liên lạc và hợp tác giữa nhà trường, giáo viên, học sinh, và phụ huynh.
  • Tích cực tham gia các hội thảo của Sở và/hoặc Phòng Giáo dục để phổ biến các bài học kinh nghiệm từ thành công của trường mình.
2. Giáo viên:
  • Chủ động áp dụng phương pháp giảng dạy mới với sự tích hợp CNTT.
  • Tích cực tham gia mô hình Hướng dẫn đồng nghiệp trong nhà trường.
  • Tích cực tham gia diễn đàn Giáo viên sáng tạo Việt Nam và toàn cầu.
  • Tích cực tham gia cuộc thi Giáo viên sáng tạo của Microsoft.
3. Học sinh:
  • Chủ động sử dụng CNTT trong các hoạt động học tập trong và ngoài nhà trường.
  • Tham gia tích cực các cuộc thi sáng tạo dành học sinh.
4. Cơ sở vật chất
  • Điều kiện lớp học đảm bảo việc ứng dụng CNTT hiệu quả.
  • Ít nhất 1 phòng máy đủ tiêu chuẩn, kết nối internet để giáo viên và học sinh có thể truy cập thông tin và học tập mọi lúc, mọi nơi.
Xem thêm các vấn đề liên quan đến MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC SÁNG TẠO CỦA MICROSOFT ở file này: Download

Wednesday, October 20, 2010

Trí thông minh của người Việt so với thế giới

Nếu kết hợp cả số công trình đã được đăng với số người làm công tác khoa học- công nghệ (ta đông hơn Thái 5 lần) thì "sản phẩm trí tuệ" tính theo đầu người của ta bằng 1/25 của Thái (nói nôm na, một nhà khoa học của Thái tạo ra "sản phẩm trí tuệ bằng 25 nhà khoa học Việt). 
Lý thuyết giỏi nhưng làm... không giỏi
Tôi xin kể lại một câu chuyện như một kỷ niệm nhỏ của mình. Cách đây hơn 40 năm, tôi được cử đi làm thực tập sinh khoa học (sau đại học) ở Tiệp khắc. Do "ăn theo" ông thầy, tôi được "ghé tên" vào mấy bản báo cáo ở Hội nghị quốc tế chuyên ngành đôi ba lần và được đi dự cùng ông. ĐSQ biết chuyện này, và trong một Hội nghị các sinh viên tiên tiến, tôi được ông Bí thư thứ nhất (đã mất từ lâu) báo tin tôi được báo cáo điển hình tại "Hội nghị những lưu học sinh tiến tiến" tại Tiệp.
Song bản báo cáo phải viết trước để ông thông qua (hồi đó cẩn thận lắm, không được phát biểu tự do). Trong báo cáo tôi có kể lại chuyện của mình và rút kinh nghiệm, đại khái là chúng ta có thể học giỏi nhưng sau khi ra trường làm không giỏi như họ. Cùng một công việc, họ thường có suy nghĩ và cách giải quyết "sáng" hơn mình, độc đáo hơn mình. Có thể mình "bí" nhưng họ vẫn tìm được lối ra.
Lúc tôi sắp lên đường đến hội nghị (cách khoảng 500 km) thì nhận được hồi âm "Quan điểm sai, đầy tinh thần tự ti dân tộc. Cậu không phải đi họp nữa". Tôi bị ám ảnh khá lâu vì "quan điểm sai lầm" của minh...
Sau khi hết hạn thực tập, tôi về nước (năm 1971), lúc qua Matxcơva may mắn được ở cùng phòng với nhà thơ Lưu Trọng Lư, trên chuyến tàu hoả từ Liên Xô về Việt Nam. Những ngày trên đường, 2 bác cháu nói chuyện với nhau khá nhiều. Khi tôi mang chuyện này ra hỏi, ông hoàn toàn đồng ý. Ông bảo đó cũng là điều ông rút ra từ bản thân mình và các bạn bè thời Pháp.
Chẳng có gì lạ vì cái học của mình, ngày xưa thì tầm chương trích cú, sau này thì học "gạo", lấy chăm chỉ, cần cù làm chính nên học "giỏi" là đương nhiên. Sự học là như vậy. Khi ra làm việc, phải chủ động, sáng tạo, phải quyết đoán, cái "yếu" của mình mới thể hiện. Ý kiến đó sau này tôi cũng được giáo sư Nguyễn Thạc Cát (đã mất năm 2002) chia sẻ.
Trí thông minh của người Việt so với thế giới
Giỏi lý thuyết nhưng không giỏi thực hành

Tôi có thể nêu một thí dụ nữa. Anh N.M.N bạn tôi làm ở ngành Địa chất. Một buổi ngồi chuyện trò với nhau, anh tâm sự: Hồi học ở Liên Xô những năm 60, mình học cùng nhóm với thằng S.V - người Nga - và thường xuyên phải giúp nó học và làm bài tập. Tốt nghiệp mình bằng đỏ, nó bằng thường. Hơn 10 năm sau, nó sang Việt Nam làm chuyên gia, mình được phân công làm việc cùng với nó. Lúc đầu, cũng bực: "Chuyên gia gì mày. Mày còn nhớ những lúc tao làm bài hộ mày chứ !". Nhưng dần dần, mình ngày càng "sợ" nó. Nó nhận định và giải quyết những chuyện chuyên môn ở mức mình không phải người tranh cãi với nó nữa mà chỉ đóng vai trò... phiên dịch cho nó mà thôi. Chuyện! Nó ra công tác với đầy đủ điều kiện làm việc, lại bám được một "sư phụ" cực giỏi, kinh nghiệm đầy mình để học hỏi, trong khi ở cái đội thăm dò của mình, mình là... trùm.
Biết bao nhiêu lý do để có hiện tượng "học giỏi nhưng làm không giỏi của "ta" và "tây". Từ cách dạy, cách học ở trường phổ thông, không gợi mở, không khuyến khích sáng tạo đến thiếu điều kiện làm việc khi ra trường để phát triển... Việc học giỏi nhưng làm không giỏi lắm khiến người Việt mình dường như đến một lúc nào đó không "bật" được nữa, có muôn ngàn lý do...
"Cúi trông thẹn đất, ngửa trông thẹn trời"
Một dân tộc không thông minh không thể tồn tại và phát triển trải qua 4000 năm với biết bao nhiêu sức ép mãnh liệt từ bên ngoài. Một dân tộc đã thắng được ba cường quốc mạnh hơn mình và trình độ phát triển cao hơn mình là một sự thông minh tuyệt vời. Song nội dung của bài này chỉ giới hạn sự thông minh trong những sáng tạo khoa học công nghệ như chúng ta thường quan niệm.
Có ý kiến cho rằng các nhà khoa học công nghệ Việt Nam ít công trình được công bố chỉ vì không gửi đăng. Vì quá "biết mình biết người"? Vì những sự e ngại, rơi rớt từ thời đóng cửa? Vì ngoại ngữ yếu? Vì các thiết bị nghiên cứu còn lạc hậu nên số đo không được chấp nhận? Vì thành kiến của người nước ngoài đối với khoa học công nghệ VN? Vì chính sách của nhà nước, của ngành chưa thích hợp? Kinh phí nghèo nàn, đời sống quá khó khăn? Rất có thể có nhiều lý do làm "trí tuệ VN" chưa phát huy được, nhưng cũng có nhiều lý do mà các nhà khoa học VN không thể biện minh.
Nói thông minh nhiều hay ít cứ phải có dẫn chứng cụ thể. "Sản phẩm của sự thông minh" đối với những người lao động trí óc là những công trình nghiên cứu và hiệu quả của chúng mang lại. Điều quan trọng nữa là cần có sự so sánh để hiểu chúng ta có bao nhiêu "sản phẩm" loại này và những nước xung quanh có bao nhiêu. Sản phẩm đầu tiên là số công trình nghiên cứu và triển khai - nói lên bức tranh về sự thông minh của nhân loại - lên tới hàng triệu bài báo mỗi năm, được công bố trên khoảng 9.000 tạp chí chuyên môn có uy tín quốc tế. Tôi xin nhắc lại các số liệu mà tôi ghi lại cách đây nhiều năm (Trần Minh Tiến, trên tờ Tia Sáng 2-2004).
Không dám dẫn ra bất cứ một nước trung bình nào, tác giả chỉ so sánh 3 nước vào thời điểm năm 1973 có điểm xuất phát gần như nhau là Thái Lan, Singapore và Việt Nam, thì đến năm 2000, số công trình được đăng trên các tạp chí khoa học của ta chỉ bằng của Thái Lan và Singapore năm 1980. Còn hiện nay, Thái nhiều hơn ta đến 5 lần, Singapore nhiều hơn ta 12,5 lần.
Một số liệu khác còn "gây sốc" hơn: Trong 30 năm qua, số lượng các bài báo về y- sinh học của VN được công bố trên các tạp chí quốc tế trên dưới 300 bài, thì của Malaysia - 2.100 bài (gấp 7 lần), Thái Lan- 5.210 bài (gấp 14 lần), Singapore khoảng 7.000 bài (gấp 23 lần).
Nếu kết hợp cả số công trình đã được đăng với số người làm công tác khoa học- công nghệ (ta đông hơn Thái 5 lần) thì "sản phẩm trí tuệ" tính theo đầu người của ta bằng 1/25 của Thái (nói nôm na, một nhà khoa học của Thái tạo ra "sản phẩm trí tuệ bằng 25 nhà khoa học Việt). Một con số thật nghiệt ngã!!!. Số liệu này là của trước đây 5 năm. Hiện nay, khoảng cách về các số liệu trên ngắn lại, giữ nguyên hay dài hơn, tôi chưa có thời gian tìm hiểu, song dù sao thì sự chênh lệch cũng vẫn quá lớn.
Có ý kiến cho rằng các nhà khoa học công nghệ Việt Nam ít công trình được công bố chỉ vì không gửi đăng. Vì quá "biết mình biết người"? Vì những sự e ngại, rơi rớt từ thời đóng cửa? Vì ngoại ngữ yếu? Vì các thiết bị nghiên cứu còn lạc hậu nên số đo không được chấp nhận? Vì thành kiến của người nước ngoài đối với khoa học công nghệ VN? Vì chính sách của nhà nước, của ngành chưa thích hợp? Kinh phí nghèo nàn, đời sống quá khó khăn? Rất có thể có nhiều lý do làm "trí tuệ VN" chưa phát huy được, nhưng cũng có nhiều lý do mà các nhà khoa học VN không thể biện minh.
Tiêu chuẩn thứ 2 mang tính thực dụng hơn, là các bằng sáng chế phát minh đăng ký trên trường quốc tế. Đây là những con số tổng kết của năm 2009 của Tổ chức sở hữu trí tuệ quốc tế WIPO, mà VN là thành viên, thậm chí còn được khen ngợi là "thành viên hoạt động hiệu quả", và cũng xin được chỉ trích những nước trong khu vực.
Kết quả có thể khiến một người tự trọng "đỏ bừng mặt": Năm 2009, Singapore đăng ký 493 bằng phát minh, trong tổng số bằng của họ trong kho tàng phát minh của nhân loại (cũng tính đến hết năm 2009) là 4.959 bằng, của Malaysia tương ứng là 181 và 1.298, của Thái Lan là 39 và 519, của Philippin là 25 và 379, của Indonesia là 18 và 253, của Việt Nam là...2 và 14. Đọc những con số ấy, người Việt nào chẳng thấy rưng rưng, "cúi trông thẹn đất, ngửa trông thẹn trời".
Trí thông minh của người Việt so với thế giới
Cũng có thể mình có những phát minh gì còn "giữ lại để dùng" mà chưa công bố với thế giới chăng?
Tại sao sản phẩm trí tuệ của Việt Nam ít như vậy? Một đội ngũ hùng hậu với gần 2 triệu người làm KHCN, hàng vạn thạc sĩ, hàng vạn tiến sĩ, gần 2.000 GS, gần 6.000 Phó GS và hàng triệu cử nhân, kỹ sư, trung cấp kỹ thuật mà trong một năm chỉ đăng ký được có 2 phát minh được quốc tế chấp nhận thôi sao?
Bản báo về phát minh sáng chế của Canada có ghi chú: Số phát minh sáng chế hàng năm tuy phản ảnh một chỉ số sáng tạo nhưng đôi khi có thể không chính xác (đọc đến đây, tôi hy vọng có "lý do chính đáng" để yên tâm). Họ cho biết đó là những phát minh lớn, giá trị kinh tế cao song người ta không đăng ký, sợ bị lộ một bí quyết sản xuất lớn, làm nên sản phẩm đặc trưng chỉ mình mới có, các nước khác phải phụ thuộc vào mình.
Rất có thể như vậy, nhưng tôi chưa nghĩ ra là "bí quyết" gì khiến ta không đăng ký ?
Cũng có thể mình có những phát minh gì còn "giữ lại để dùng" mà chưa công bố với thế giới chăng?
Những quan điểm trên đây có thể nông cạn, chủ quan, "tự ti dân tộc" và đồng thời nguồn thông tin tiếp cận chắc chắn còn hạn chế. Rất mong được sự phản biện, trao đổi lại của bạn đọc, để từ việc tìm ra nguyên nhân của những yếu kém, chúng ta có những giải pháp khẳng định có tính thuyết phục về trí thông minh của người Việt?

tuyensinhvnn.com (Theo Tuần Việt Nam)